Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 75/2024/DS-PT

Ngày: 03/7/2024

V/v đòi tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Lê Thị Hiền

Các Thẩm phán: Bà Võ Thị Trầm

Ông Nguyễn Trung Tín

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ánh Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị Kim Liên - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 03 tháng 6 và ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 45/2024/TLPT-DS ngày 12 tháng 3 năm 2024 về việc “Đòi tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 36/2023/DS-ST ngày 15/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXX-PT ngày 14 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 68/2024/QĐ-PT ngày 27/5/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1983

Địa chỉ: Thôn P, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Võ Minh N, sinh năm 1995; địa chỉ: A M, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc Á, sinh năm 1967

Địa chỉ: Thôn K, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Cao Huy H, sinh năm 1984; địa chỉ: D đường L, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Nguyễn Ngọc Á: Luật sư Cao Như Ý – Luật sư Công ty L thuộc Đoàn Luật sư K. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện nguyên đơn trình bày:

Ông Nguyễn Văn T là chủ sử dụng đất đối với thửa đất số 162, tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại thôn T, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CT520578, số vào sổ cấp GCN: CS00729 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp ngày 29/10/2019. Hiện nay, trên đất có một ngôi nhà cấp 4 diện tích khoảng 50m².

Tài sản nêu trên là do ông T nhận chuyển nhượng hợp pháp từ bà Nguyễn Thị T1 theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được chứng nhận tại Văn phòng C ngày 19/8/2019, số công chứng 6905, quyển số 07/2019 TP/CC-SCC/HĐGD, có ông Nguyễn Ngọc Á là con trai ruột của bà T1 làm chứng với giá chuyển nhượng theo hợp đồng là 300.000.000 đồng và bà T1 đã nhận đủ số tiền chuyển nhượng nhà đất trên. Việc giao kết hợp đồng là do hai bên hoàn toàn tự nguyện, không bị đe dọa hay ép buộc.

Sau khi nhận chuyển nhượng tài sản, bà T1 có đề nghị ông T cho thuê căn nhà nêu trên để tiếp tục ở. Ông T đồng ý cho bà T1 thuê nhà với thời hạn là 02 năm tính từ ngày 12/11/2019 đến ngày 12/11/2021 với giá cho thuê là 9.000.000 đồng. Hai bên lập hợp đồng thuê nhà ngày 12/11/2019, có ông Nguyễn Ngọc Á là con trai ruột của bà T1 làm chứng.

Tháng 8/2021, bà Nguyễn Thị T1 chết, ông Á đã tự ý chuyển đến ở tại nhà đất này. Đến hết hạn thuê, ông T đã yêu cầu ông Á trả lại nhà nhưng ông Á vẫn tiếp tục ở và không dọn đi.

Nay, ông Nguyễn Văn T yêu cầu ông Nguyễn Ngọc Á trả lại nhà và đất thuộc thửa số 162, tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại thôn T, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa cho ông T.

Tại Bản tự khai ngày 05/5/2023 của bị đơn ông Nguyễn Ngọc Á và tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

Năm 2019, bà Nguyễn Thị T1 là mẹ của ông Á thế chấp cho ông Nguyễn Văn T thuộc dịch vụ cầm đồ D - Diên Khánh một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với số tiền 250.000.000 đồng, đồng thời, ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông T. Do tình hình dịch bệnh kéo dài, kinh tế gia đình khó khăn nên bà T1 không trả được tiền cho ông T. Do đó, ông T đã làm thủ tục sang tên cho ông nhà và đất thuộc thửa số 162, tờ bản đồ số 20, tọa lạc tại thôn T, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Đến năm 2022, ông Á xin chuộc lại nhà đất trên nhưng ông T không đồng ý. Ông Á không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T.

Bản án dân sự sơ thẩm số: 36/2023/DS-ST ngày 15 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa đã căn cứ các Điều 158, Điều 164, Điều 166 Luật Đất đai; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, quyết định:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T. Buộc ông Nguyễn Ngọc Á phải trả lại nhà và thửa đất số 162, tờ bản đồ số 20, diện tích 468,1m² tọa lạc tại thôn T, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa cho ông Nguyễn Văn T.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 29/12/2023, bị đơn ông Nguyễn Ngọc Á kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm.

Ý kiến của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn giữ nguyên kháng cáo, đề nghị hủy bản án sơ thẩm vì đất bà Nguyễn Thị T1 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn T có nguồn gốc thuộc thửa đất 1008, tờ bản đồ 03 cấp cho hộ gia đình bà Nguyễn Thị T1 theo giấy chứng nhận cấp ngày 11/12/1997, hộ gia đình có 06 nhân khẩu theo Đơn đăng ký quyền sử dụng đất đề ngày 02/6/1997 của bà T1. Quá trình sử dụng đất, bà T1 đã nhiều lần tách thửa đất này và đứng tên một mình chuyển nhượng cho nhiều người, các thành viên trong hộ gia đình biết và không phản đối; phần đất còn lại là thửa đất 162, tờ bản đồ 03 được bà T1 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn T không có sự đồng ý của các thành viên trong hộ gia đình là trái pháp luật; Tòa án cấp sơ thẩm không đưa các thành viên trong hộ gia đình bà T1 vào tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

- Bị đơn đề nghị Tòa án giữ nguyên bản án sơ thẩm, cho rằng đất được cấp cho cá nhân bà Nguyễn Thị T1 nên bà có quyền tự định đoạt.

- Tòa án cấp phúc thẩm nhận được đơn của ông Nguyễn V, sinh năm: 1991, địa chỉ: Thôn K, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa, là con của ông Nguyễn Ngọc Á, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm đưa ông vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do thửa đất đang tranh chấp là tài sản của hộ gia đình bà Nguyễn Thị T1 gồm bà T1 và ông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa phát biểu:

Tòa án đã thực hiện đúng các qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nhà đất tranh chấp là của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T nhận chuyển nhượng từ bà Nguyễn Thị T1 và ông Nguyễn Văn T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông Nguyễn Ngọc Á sử dụng nhà đất khi không có sự đồng ý của ông Nguyễn Văn T là trái pháp luật và ông Nguyễn Văn T có quyền yêu cầu ông Nguyễn Ngọc Á trả lại nhà đất. Vì vậy, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00520 QSDĐ/SC-DK do Ủy ban nhân dân huyện D cấp cho hộ bà Nguyễn Thị T1, chồng (không) ngày 11/12/1997 đối với thửa đất 1008, tờ bản đồ số 03, diện tích 1965m², trong đó có 200m² đất thổ cư, còn lại là đất quả và thửa đất số 1006 tờ bản đồ 03 là đất trồng lúa thể hiện nguồn gốc thửa đất 1008 là do xã cấp từ năm 1975 cho bà Nguyễn Thị T1 để làm nhà ở, không giấy tờ, hiện trạng theo giấy giao nhận diện tích đo đạc là loại đất thổ cư, xung quanh giáp đất thổ cư của các chủ đất liền kề và đường liên xóm, không phải là đất nông nghiệp cấp theo Nghị định 64 cho các hộ gia đình; Nhà nước chỉ công nhận 200m² đất thổ cư trong tổng diện tích đất đo đạc là do qui định về hạn mức công nhận đất ở; tại Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất (được sử dụng theo mẫu chung), bà T1 có ghi trong hộ hiện có 06 nhân khẩu là kê khai cho thửa đất 1006 tờ bản đồ 03 - là đất lúa và được ghi rõ là đất cấp theo Nghị định 64 của Chính phủ. Như vậy, thửa đất 1008 thuộc quyền sử dụng của cá nhân bà Nguyễn Thị T1. Quá trình sử dụng đất, bà T1 nhiều lần tách thửa đối với thửa đất 1008, tờ bản đồ 03, làm giấy chứng nhận qui định đất mới và chuyển nhượng cho nhiều người từ năm 2005 đến nay; thửa đất 162, tờ bản đồ 20 tọa lạc tại thôn T, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa đang tranh chấp trong vụ án có nguồn gốc là từ thửa đất 1008, tờ bản đồ số 03 của bà T1.

[2] Vì vậy, ông Nguyễn V hay bất cứ thành viên nào trong hộ gia đình bà Nguyễn Thị T1 đều không có quyền và lợi ích liên quan đến tài sản tranh chấp; đề nghị của ông Nguyễn V và ý kiến của bị đơn cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi không đưa các thành viên trong hộ gia đình bà Nguyễn Thị T1 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không có căn cứ, không được chấp nhận.

[3] Thửa đất 162, tờ bản đồ 20 đã được bà Nguyễn Thị T1 chuyển nhượng hợp pháp cho ông Nguyễn Văn T và ông T đã được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS00729 ngày 29/10/2019, đây là tài sản thuộc quyền sử dụng của ông T. Tuy Hợp đồng chuyển nhượng và giấy chứng nhận không ghi nhận phần nhà trên đất nhưng tại Hợp đồng thuê nhà ngày 12/11/2019 giữa bên cho thuê ông Nguyễn Văn T với bên thuê là bà Nguyễn Thị T1 có ông Nguyễn Ngọc Á làm chứng (bút lục 05) có nội dung ông T cho bà T1 thuê toàn bộ ngôi nhà cấp 4 trên đất với thời hạn 02 năm từ ngày 12/11/2019 đến ngày 12/11/2021, đủ căn cứ xác định bà T1 đã chuyển nhượng cho ông T cả nhà gắn liền với đất. Đến nay, thời hạn thuê nhà đã hết, bà T1 đã chết nên việc bị đơn chiếm giữ nhà đất này là trái pháp luật. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận.

[4] Bị đơn phải chịu án phí phúc thẩm do yêu cầu kháng cáo của mình không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Điều 164, Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Ngọc Á; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T. Buộc ông Nguyễn Ngọc Á phải trả lại thửa đất số 162, tờ bản đồ số 20, diện tích 468,1m² cùng nhà và vật kiến trúc trên đất tọa lạc tại thôn T, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa cho ông Nguyễn Văn T (theo Mảnh trích đo địa chính kèm theo bản án).

2. Chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Ngọc Á phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng là 6.100.000đ. Ông Nguyễn Ngọc Á phải trả cho ông Nguyễn Văn T 6.100.000₫ chi phí tố tụng do ông Nguyễn Văn T đã tạm ứng cho Tòa án.

3. Án phí:

3.1 Ông Nguyễn Ngọc Á phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào 300.000đ tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007561 ngày 15/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lâm. Như vậy, ông Nguyễn Ngọc Á chỉ còn phải nộp 300.000đ.

3.2. Trả lại cho ông Nguyễn Văn T 300.000đ tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0009511 ngày 13/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lâm.

Qui định chung: - Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án và bản án có hiệu lực thi hành, nếu người phải thi hành án không thi hành án thì còn phải trả lãi theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án. - Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- Các đương sự;

- VKSND tỉnh Khánh Hòa;

- TAND huyện Cam Lâm;

- Chi cục THADS huyện Cam Lâm;

- Lưu: VP, Tòa DS, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/DS-PT ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về đòi tài sản

  • Số bản án: 75/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đòi tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger