|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 75/2023/HSST Ngày: 17/11/2023. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Cường
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Lê Thị Thanh Dung
2/ Bà Lê Thị Thu Hương
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thanh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn K – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2023/TLST – HS ngày 20/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
LÊ VĂN HOÀNG; sinh ngày 01/12/1993, tại: Bình Dương; Nơi đăng ký HKTT: 383/2 Quốc lộ A, Khóm E, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Lơ xe; trình độ văn hóa (học vấn): 04/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn R, sinh năm 1966 và bà Lê Thị C, sinh năm: 1969; hoàn cảnh gia đình: vợ Võ Thị Bích P, sinh năm 2000 (đã ly hôn), có 01 con nhỏ.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Có 01 tiền án cụ thể như sau:
Ngày 22/4/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 09 tháng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bản án số 109/2021/HS-ST ngày 22/4/2021, chấp hành xong ngày 30/8/2022, án phí dân sự đã thi hành).
Nhân thân:
Ngày 03/8/2011, bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm 02 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” (theo Bản án số 231/2011/HSST ngày 03/8/2011, chấp hành xong ngày 13/8/2013, án phí dân sự đã thi hành).
Ngày 10/01/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 14 tháng (theo Quyết định số 07/2019/QĐ-TA).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/4/2023, tạm giam từ ngày 27/4/2023 tại Nhà tạm giữ Công an quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
(bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người bị hại:
1. Ông Hoàng Văn H, sinh năm 1979
Địa chỉ: Ấp D, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai
(vắng mặt).
2. Bà Võ THị Hồng H1, sinh năm 1974
Địa chỉ: F tỉnh lộ 43, Khu phố C, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ 00 ngày 17/4/2023 Lê Văn H2 đi bộ ngang qua cửa phụ nhà số F Tỉnh lộ 43, Khu phố C, phường T, Thành phố T thì H2 thấy cửa mở, quan sát thấy xe mô tô hiệu Honda Scoopy, màu nâu đen, biển số: 59X3-259.14 của bà Võ Thị Hồng H3 cắm sẵn chìa khóa, để trong nhà, không có người trông coi nên H2 nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, sau đó H2 đi vào bên trong nhà lén lút lấy mũ bảo hiểm màu trắng treo trên xe đội lên đầu, bật chìa khóa có sẵn trên xe, rồi điều khiển xe bỏ chạy.
Khoảng 13 giờ 00 cùng ngày 17/4/2023, đối tượng Lê Văn H2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Scoopy biển số: 59X3-259.14 đến khách sạn “Mi Linh” địa chỉ: B B, Phường B, quận T để thuê phòng, nhưng không có giấy tờ tùy thân nên H2 không thuê được phòng, H2 bỏ lại xe trên tại bãi xe của khách sạn “M” và đi bộ ra đường Đ, phường I, quận P thì quan sát thấy tại khu vực này có đậu nhiều xe ô tô nên H2 nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khi đi đến trước trạm biến áp số A T, H, Phường I, quận P, H2 thấy xe ô tô nhãn hiệu Suzuki, màu trắng biển số: 60K-058.02 của ông Hoàng Văn H có cắm sẵn chìa khóa, không có người trông coi nên H2 đi đến mở khóa xe điều khiển xe bỏ chạy thì bị ông Hoàng Văn H phát hiện, truy hô, đuổi theo. H2 điều khiển xe trên ra đường B đến vòng xoay cầu vượt N - Hoàng Minh G thì gặp đèn đỏ, nên H2 điều khiển xe vào lề đường B, Phường C, quận G, kéo phanh tay, tắt máy xe rồi bước xuống xe vào vỉa hè thì bị ông Hoàng Văn H và người dân bắt giữ đưa về Công an Phường 9, quận P tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Lê Văn H2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của Lê Văn H2 phù hợp với vật chứng bị thu giữ và các tài liệu, chứng cứ Cơ quan điều tra thu thập được.hân thân, lai lịch) rủ đi uống cà phê, sau đó, K
Căn cứ Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận P ngày 24/4/2023, kết luận 01 xe ô tô hiệu Suzuki Ertiga, biển số: 60K - 058.02 trị giá 400.000.000 đồng.
Căn cứ Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận P ngày 02/6/2023, kết luận 01 mô tô hiệu Honda Scoopy, màu nâu đen, biển số: 59X3-259.14 trị giá 32.667.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản Lê Văn H2 trộm cắp là 432.667.000 đồng.
Vật chứng vụ án:
- - 01 xe ô tô hiệu Suzuki Ertiga, biển số: 60K - 058.02. Hiện Cơ quan điều tra công an quận P đã thu hồi trả lại bị hại ông Hoàng Văn H.
- - 01 xe mô tô hiệu Honda Scoopy màu nâu đen, biển số 59X3-259.14. Hiện đã thu hồi, chuyển Cơ quan điều tra Công an Thành phố T trả lại bị hại bà Võ Thị Hồng H3.
- - 01 điện thoại di động hiệu S A31, màu trắng, thu giữ của Lê Văn H2. Qua xác minh, thuộc sở hữu của bà Trần Thanh H4 (người sống chung như vợ chồng với H2), bà H4 cho Hoàng mượn để sử dụng làm phương tiện liên lạc cá nhân. Xét không liên quan đến hành vi phạm tội của H2 nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Trần Thanh H4.
- - 01 USB màu đen ghi nhận hình ảnh H2 lấy trộm xe Honda Scoopy biển số: 59X3-259.14 (lưu hồ sơ).
Tại bản cáo trạng số 64/CT – VKS.PN ngày 10 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê văn H5 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận phát biểu và kết luận cáo trạng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173, Điều 38, điểm g, h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo mức án từ 08 (tám) năm tù đến 09 (chín) năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, nhận thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Văn H2.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm bồi thường dân sự: Không có.
Bị cáo Lê Văn H2 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo có cơ hội sớm hòa nhập cộng đồng, cố gắng cải tạo tốt để giảm án tù trước thời hạn, sớm thúc dục gia đình đóng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự cụ thể căn cứ vào quyết định nhập vụ án hình sự số 04/QĐ-ĐTTH ngày 10/8/2023 của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an quận P về việc nhập vụ án hình sự theo quyết định khởi tố vụ án số 112/QĐ-ĐTTH ngày 25 tháng 4 năm 2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận P với vụ án hình sự theo quyết định khởi tố vụ án số 464/QĐ-CQCSĐT-ĐCSHS ngày 22 tháng 6 năm 2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn H2 không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện là hợp pháp.
[2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:
Tại phiên tòa người bị hại bà Võ Thị Hồng H3, ông Hoàng Văn H vắng mặt nhưng đã có lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, căn cứ vào khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[3]. Về căn cứ định tội, định khung hình phạt:
Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Văn H2 tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản tường trình, biên bản lấy lời khai, biên bản làm việc tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; vật chứng thu giữ, bản ảnh ghi nhận hiện trường vụ án, hình ảnh trích xuất từ camera và Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự, cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Ngày 17/4/2023, bị cáo Lê Văn H2 đã hai lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản gồm 01 xe mô tô hiệu Honda Scoopy màu nâu đen, biển số 59X3-259.14 của bà Võ Thị Hồng H3 tại nhà số F Tỉnh lộ 43, Khu phố C, phường T, Thành phố T (buổi sáng) và 01 xe ô tô hiệu Suzuki Ertiga, biển số: 60K - 058.02 của ông Hoàng Văn H tại trước trạm biến áp số 110/15KV T, đường H, Phường I, quận P vào khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày 17/4/2023. Tổng giá trị tài sản Lê Văn H2 trộm cắp là 432.667.000 đồng.
Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, đã trực tiếp xâm hại đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tư lợi cá nhân, mục đích muốn có phương tiện sử dụng không cần phải lao động nên bị cáo cố tình phạm tội. Vì vậy, cần xử bị cáo Lê Văn H2 mức án nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
Như vậy, với hành vi lén lút trộm cắp tài sản như nêu trên của bị cáo Lê Văn H2 đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận đã truy tố bị cáo Lê Văn H2 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về nhân thân bị cáo:
Bị cáo Lê Văn H2 là người có nhân thân xấu, năm 2011, bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm 02 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, năm 2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 14 tháng (mười bốn). Về tiền án, năm 2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 30/8/2022, đến nay bị cáo chưa được xóa án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học sửa chữa mà vẫn tiếp tục đi vào con đường phạm tội, thuộc trường hợp “tái phạm”, cho thấy thái độ thách thức xem thường pháp luật của bị cáo. Lần phạm tội này, bị cáo 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ở hai địa điểm, thời điểm khác nhau, nên thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên.
[5] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo Lê Văn H2.
[5.1] Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Năm 2021, bị cáo Lê Văn H2 bị Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 30/8/2022, đến nay chưa được xóa án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học sửa chữa mà vẫn tiếp tục đi vào con đường phạm tội, thuộc trường hợp “tái phạm” cho thấy thái độ thách thức xem thường pháp luật của bị cáo. Lần phạm tội này, bị cáo 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ở hai địa điểm, thời điểm khác nhau, nên thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
[5.2] Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn H2 có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải để áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
[6]. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
- - 01 xe ô tô hiệu Suzuki Ertiga, biển số: 60K - 058.02. Cơ quan điều tra Công an quận P đã thu hồi trả lại bị hại ông Hoàng Văn H là đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - 01 xe mô tô hiệu Honda Scoopy màu nâu đen, biển số 59X3-259.14. Cơ quan điều tra Công an Thành phố T trả lại bị hại bà Võ Thị Hồng H3 là đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - 01 điện thoại di động hiệu S A31, màu trắng, thu giữ của bị cáo Lê Văn H2. Qua xác minh, thuộc sở hữu của bà Trần Thanh H4 (người sống chung như vợ chồng với H2), bà H4 cho Hoàng mượn để sử dụng làm phương tiện liên lạc cá nhân. Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Trần Thanh H4 là đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - 01 USB màu đen ghi nhận hình ảnh bị cáo Lê Văn H2 lấy trộm xe Honda Scoopy biển số: 59X3-259.14 tiếp tục lưu hồ sơ.
[7]. Về hình phạt bổ sung:
Căn cứ vào tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Lê Văn H2 không có công việc, thu nhập ổ định, nơi cư trú không có nơi ở nhất định nên Hội đồng xét xử nhận thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Văn H2.
[8]. Diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần tranh luận của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử kết án bị cáo Lê Văn H2 về tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173, Điều 38, điểm g, h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và đề nghị mức hình phạt, về xử lý vật chứng, về xử lý trách nhiệm dân sự là có căn cứ pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lê Văn H2 phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Lê Văn H2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; Điều 38, điểm g, h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lê Văn H2 phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo:
- Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn H2 08 (T) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/4/2023.
Lưu vào hồ sơ vụ án 01 USB màu đen ghi lại hình ảnh bị cáo Lê Văn H2 lấy trộm xe Honda Scoopy biển số: 59X3-259.14
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án để xin xét xử phúc thẩm. Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Cao Cường |
Bản án số 75/2023/HSST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 75/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Hoàng phạm tội "Trộm cắp tài sản"
