Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 75/2021/HNGĐ-ST.

Ngày: 29/3/2021.

V/v: Tranh chấp “Ly hôn”.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh.
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Nguyễn Trung Diễn - Cán bộ hưu trí
    2. Bà Trần Thị Hồng Ngọc - Nguyên cán bộ Hội liên hiệp phụ nữ phường Tam Hiệp, thành phố Biên Hòa.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Kim Hải – Thư ký tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Ngày 29 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 2650/2020/TLST - HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/3/2021, giữa:

  1. Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị L, sinh năm 1987.

    Địa chỉ: Xóm 12, Trường X, Thuỵ T, huyện T, tỉnh T.

  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1989.

    Địa chỉ: tổ 18, khu phố 5, phường L, thành phố B, tỉnh Đ.

(Bà L, ông S có đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn bà Đỗ Thị L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông S tự nguyện kết hôn vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Đ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng trong suy nghĩ, không thể hiểu hết tính tình của nhau cũng như quan điểm sống khác biệt, thường xuyên cãi vã. Do vậy hai vợ chồng không thể ngồi lại nói chuyện với nhau, tình cảm không còn. Vì vậy, bà không thể tiếp tục cuộc sống vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà xin ly hôn với ông S để trả tự do cho nhau.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Trọng T, sinh ngày 15/9/2013. Ly hôn, bà L giao con cho ông S nuôi dưỡng và bà không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

* Bị đơn ông Nguyễn Văn S trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà L tự nguyện kết hôn vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Đ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tính cách không hợp, thường xuyên cãi vã nhau và ông bà đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Nay bà L xin ly hôn thì ông đồng ý ly hôn để trả tự do cho nhau.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Trọng T, sinh ngày 15/9/2013. Ly hôn, ông đồng ý nuôi dưỡng cháu T và không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

* Sau khi nghiên cứu hồ sơ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Bà L xin ly hôn với ông S có địa chỉ cư trú tại: tổ 18, khu phố 5, phường L, thành phố B, tỉnh Đ. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa có thẩm quyền giải quyết.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin vắng mặt. Vì vậy, tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà L, ông S theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà L, ông S có đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Đ (theo giấy chứng nhận kết hôn số: 131 ngày 15/3/2012) nên xác định là hôn nhân hợp pháp.

Xét thấy, bà L trình bày: Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng trong suy nghĩ, không thể hiểu hết tính tình của nhau cũng như quan điểm sống khác biệt, thường xuyên cãi vã, tình cảm không còn. Bà không thể tiếp tục cuộc sống vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà xin ly hôn với ông S; Ông S cũng thừa nhận hai vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, tính cách không hợp, thường xuyên cãi vã nhau và ông bà đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Nay bà L xin ly hôn thì ông đồng ý ly hôn.

Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L, giải quyết cho bà L được ly hôn với ông S để trả tự do cả hai là phù hợp.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Trọng T, sinh ngày 15/9/2013. Ly hôn, bà L giao con cho ông S nuôi dưỡng và bà không cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, từ khi hai vợ chồng sống ly thân cháu T ở với ông S, được ông S chăm sóc tốt về mọi mặt. Ly hôn, ông S đồng ý nuôi dưỡng cháu T và không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con. Do đó, giao cháu Nguyễn Trọng T cho ông S trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, tạm thời bà L không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà L phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 228, 233, 235, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84, 110 Luật Hôn nhân và gia đình.

Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu “Ly hôn” của bà Đỗ Thị L.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị L được ly hôn với ông Nguyễn Văn S.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trọng T, sinh ngày 15/9/2013 cho ông Nguyễn Văn S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời, bà Đỗ Thị L không cấp dưỡng nuôi con.

    Vì không trực tiếp chăm sóc, giáo dục con chung nên bà L được quyền thăm nom con không ai được cản trở. Vì quyền lợi của trẻ, khi cần thiết ông bà có quyền yêu cầu thay đổi vị trí nuôi các con và mức cấp dưỡng nuôi các con.

  3. Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về nợ chung: Không có.
  5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Đỗ Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa theo biên lai thu số 0007647 ngày 04/12/2020.
  6. Bà Đỗ Thị L và ông Nguyễn Văn S được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Toà án tỉnh;
  • - VKS TP. Biên Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THA dân sự TP. Biên Hòa;
  • - UBND P. L, TP B, T. Đ;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2021/HNGĐ-ST ngày 29/03/2021 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 75/2021/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/03/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà L ly hôn ông S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger