|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 75/2021/HNGĐ-ST Ngày: 08/7/2021 V/v: “Tranh chấp ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC L - TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Thuận.
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Đinh Thị Hạnh
- Bà Lê Hoàng Mỹ Dung.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Vân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh B; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý: 220/2021/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 6 năm 2021, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2021/QĐXXST-HNGĐ, ngày 25 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị H, sinh năm: 1986
Nơi cư trú: Số 18, đường số 43, thôn 3, xã V, huyện Đ, tỉnh B.
2. Bị đơn: Nguyễn Vũ L, sinh năm: 1991
Nơi cư trú trước khi biệt tích: Số 18, đường số 43, thôn 3, xã V, huyện Đ, tỉnh B.
(Hiện nay đã mất tích theo quyết định số 11/2021/QĐST-DS, ngày 26/5/2021).
Tại phiên tòa: nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 25/6/2021
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 11/6/2021, biên bản tự khai và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, nguyên đơn Nguyễn Thị H trình bày: Chị và anh Nguyễn Vũ L tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã V vào năm 2016, anh chị chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2018 thì xẩy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là mâu thuẫn về tài chính, kinh tế trong gia đình. Khi sự việc xẩy ra thì anh L bỏ nhà đi đâu không rõ từ tháng 6/2018 cho đến nay. Do đó, vào tháng 1/2021 chị có làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Nguyễn Vũ L mất tích và Tòa án đã tuyên bố anh Nguyễn Vũ L mất tích theo quyết định số 11/2021/QĐST-DS, ngày 26/5/2021. Nay chị làm đơn này yêu cầu Tòa án cho anh được ly hôn với anh Nguyễn Vũ Linh.
- Về con chung: anh chị có 01 con chung:
+ Trần Thị Ngọc Aí, sinh năm: 2016
Hiện nay con (Ái) đang ở cùng với chị, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: không có.
- Về phía bị đơn: Anh Nguyễn Vũ L (Hiện nay đã mất tích theo quyết định số 11/2021/QĐST-DS, ngày 26/5/2021)
Ý kiến của kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật của thẩm phán, Hội đồng xét xử và của các đương sự: Thẩm phán đã thụ lý hồ sơ, xác định đúng quan hệ pháp luật, lập và gửi các văn bản đúng quy định. Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử đúng trình tự luật định. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt là đúng pháp luật, bị đơn đã mất tích theo quyết định số 11/2021/QĐST-DS, ngày 26/5/2021. Vì vậy HĐXX, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cho thấy anh Nguyễn Vũ L đã mất tích theo quyết định số 11/2021/QĐST-DS, ngày 26/5/2021. Vì vậy Hội đồng xét xử cho ly hôn là đúng theo quy định tại khoản 2, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của nguyên đơn có trong hồ sơ của Tòa án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện đề ngày 11/6/2021, Tòa án xác định đây là vụ án: “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh B theo quy định tại khoản 1, Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về thủ tục tố tụng: Kể từ ngày Tòa án nhân dân huyện Đ thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã thực hiện đúng quy định về việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho đương sự được quy định tại chương X Bộ luật tố tụng dân sự.
Chị Nguyễn Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 25/6/2021. Hội đồng xét xử xét thấy rằng nội dung và hình thức của đơn đề nghị xét xử vắng mặt là đúng theo quy định của pháp luật và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt nguyên đơn là đúng pháp luật.
Bị đơn Nguyễn Vũ L đã mất tích theo quyết định số 11/2021/QĐST-DS, ngày 26/5/2021. Vì vậy Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn là đúng pháp luật.
[4] Về hôn nhân: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Vũ L có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện Đ, tỉnh B vào năm 2016. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Căn cứ vào quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử khẳng định đây là sự thật không cần phải chứng minh.
Tuy nhiên, sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2018 thì xẩy ra mâu thuẫn. Do đó, anh L đã bỏ đi không rõ tung tích cho đến nay. Hiện nay anh Nguyễn Vũ L đã mất tích theo quyết định số 11/2021/QĐST-DS, ngày 26/5/2021. Vì vậy Hội đồng xét xử cho ly hôn là đúng theo quy định tại khoản 2, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ nghị quyết về án phí và lệ phí của Ủy ban thường vụ Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 thì chị H là người khởi kiện ly hôn nên chị phải chịu toàn bộ án phí ly hôn theo luật định.
[6] Xét ý kiến của Kiểm Sát Viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật. Phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp vợi nội dung vụ án.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự của năm 2015; Áp dụng Điều 51, khoản 2, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26 luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016. Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị H:
1/ Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H ly hôn anh Nguyễn Vũ Linh
2/ Về án phí DSST: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí DSST, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0005400 ngày 15/6/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ. Chị H đã nộp đủ án phí DSST.
4/ Về quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn biết, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - VKSND huyện Đ; - Thi hành án DS huyện Đ; - Các đương sự;. - UBND xã V . - Lưu hồ sơ, quyết định./. |
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC L T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Đỗ Xuân Thuận |
Bản án số 75/2021/HNGĐ-ST ngày 08/07/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 75/2021/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
