|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 75/2021/HNGĐ-PT Ngày: 22/01/2021. Về “Tranh chấp ly hôn”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Châu Thị Điệp. |
| Các Thẩm phán: | Bà Nguyễn Thị Minh Phượng. Bà Nguyễn Thị Lan Hương. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Khánh Linh - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Võ Phạm Phương Hạnh - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 22 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 122/TLPT-HNGĐ ngày 28/10/2020 về “Tranh chấp ly hôn”.
Do bản án sơ thẩm số 947/2020/HNGĐ-ST ngày 08/9/2020 của Toà án nhân dân quận huyện M, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 6252/2020/QĐPT-HNGĐ ngày 11/12/2020 và Quyết định hoãn phiên toà số 11/2021/QĐPT-HNGĐ ngày 05/01/2021, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Mạnh H, sinh năm: 1990; Địa chỉ: 39 ấp 7, xã X, huyện M, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Phùng Văn T - Luật sư của Văn phòng Luật sư Q, thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt). - - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1994; Địa chỉ: Ấp 2, xã, huyện M, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Nguyễn Phước L - Luật sư của Công ty Luật N, thuộc Đoàn luật sư tỉnh BD (có mặt). - - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Vũ Thị L1, sinh năm: 1971 (có mặt).
- Ông Nguyễn Văn D, sinh năm: 1965 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- - Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm: 1977; Địa chỉ: 708/36 HB, Phường 1, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NHẬN THẤY:
Nguyên đơn ông Nguyễn Mạnh H trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị H1 tự nguyện tiến tới hôn nhân năm 2015, đăng ký kết hôn số 247 do Ủy ban nhân dân xã X, huyện M, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/12/2015. Vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi, cuộc sống chung không hạnh phúc. Ông xác định tình cảm không còn, xin được ly hôn.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung: Ông H trình bày giữa hai bên không có tài sản chung. Việc bà H1 cho rằng vợ chồng có một lô đất thửa 789 tờ bản đồ số 22, tại xã X, huyện M, Thành phố Hồ Chí Minh, có đưa cho ông số tiền 1.300.000.000 đồng và mượn bố mẹ của ông H số tiền 200.000.000 đồng để mua đất là không đúng. Đây không phải do hai vợ chồng mua mà do bố mẹ của ông là ông Nguyễn Văn D và bà Vũ Thị L1 mua nhờ ông đứng tên giùm. Bà H1 yêu cầu chia ½ giá trị phần tài sản chung này, ông H không đồng ý.
Bị đơn bà Nguyễn Thị H1 trình bày: Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc, sau đó vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân thường xuyên gây gổ, cãi vã, dần tình cảm không còn. Bà đồng ý ly hôn. Về tài sản chung: Có một lô đất thửa 789 tờ bản đồ số 22, tại xã X, huyện M. Phần đất này do bà đưa cho ông H số tiền 1.300.000.000 đồng còn lại 200.000.000 đồng vợ chồng bà vay của cha mẹ chồng. Bà yêu cầu được chia 1/2 giá trị tài sản trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
1. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị H1 làm trong thời hạn, đương sự đã nộp tiền tạm ứng án phí kháng cáo trong thời hạn, phù hợp với các quy định tại Điều 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
2. Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn: Ông Nguyễn Mạnh H và bà Nguyễn Thị H1 kết hôn năm 2015, theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 006763 ngày 20/4/2018. Căn cứ Điều 33 Bộ luật Hôn nhân và Gia đình, quyền sử dụng 80,1 m2 đất thuộc thửa 789, tờ bản đồ số 22, tại xã X, huyện M, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản tạo lập trong thời kỳ hôn nhân nên tài sản chung của vợ chồng. Do đó, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, sửa bản án dân sự sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình thức: Chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn.
2. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, sửa quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 947/2020/HNGĐ-ST ngày 08/9/2020 của Toà án nhân dân huyện M, Thành phố Hồ Chí Minh.
2.1. Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Mạnh H. Ông Nguyễn Mạnh H được ly hôn với bà Nguyễn Thị H1.
2.2. Về con chung: Không có.
2.3 Về tài sản chung: Xác định quyền sử dụng 80,1 m2 đất thuộc thửa 789, tờ bản đồ số 22, tại xã X, huyện M là tài sản chung của ông Nguyễn Mạnh H và bà Nguyễn Thị H1. Ông Nguyễn Mạnh H có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Nguyễn Thị H1 902.000.000 đồng.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Thị Điệp |
Bản án số 75/2021/HNGĐ-PT ngày 22/01/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 75/2021/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/01/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
