|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 749/2023/HNGĐ-ST Ngày: 11-8-2023 V/v “Tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trúc Lý
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đào Quốc Thắng
2. Bà Nguyễn Thị Bông Hường
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Đào, Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân
Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa: Bà
Phạm Thị Diệu Hiền – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 183/2023/TLST-HNST ngày 06 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 321/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1972 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số 200/17 Nguyễn Hữu T, phường Tây Thạnh, quận Tân Phú, Thành
phố Hồ Chí Minh
Bị đơn: Ông Huỳnh Tấn D, sinh năm 1968 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số 14 đường T, phường Tây Thạnh, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí
Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, các lời trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T trình bày:
Bà và ông Huỳnh Tấn D tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1998, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND phường Cẩm Phô, thị xã Hội An, tỉnh Quãng Nam theo giấy chứng nhận kết hôn số 21, quyển số 20 ngày 16/3/1998. Vợ chồng chung sống thời gian đầu hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không tin tưởng giữa vợ chồng thường xuyên cãi vả và cách chăm soc nuôi dạy con, chi tiêu tiền bạc trong gia đình. Nay bà xin ly hôn với ông D để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Huỳnh Văn H, sinh ngày 18/10/1996 và Huỳnh Ngọc Uyên N, sinh ngày 18/01/2006. Khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi con chung Huỳnh Ngọc Uyên N, sinh ngày 18/01/2006, không yêu cầu ông D cấp dưỡng cho con.
Con chung Huỳnh Văn H đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không có
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn ông Huỳnh Tấn D vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng quy định tại các Điều 48, Điều 49, Điều 51 Điều 63 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Việc Tòa thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, đúng quan hệ tranh chấp và về thu thập chứng cứ, xác định đúng tư cách đương sự. Yêu cầu chung đối với phiên tòa sơ thẩm Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo quy định tại Điều 222, Điều 228 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình 2014,
Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T về việc xin ly hôn ông Huỳnh Tấn D.
Về con chung: Giao con chung tên Huỳnh Ngọc Uyên N, sinh ngày 18/01/2006 cho bà Nguyễn Thị Ngọc T nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông Huỳnh Tấn D do bà T không yêu cầu. Đối với con chung tên Huỳnh Văn H, sinh ngày 18/10/1996 đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xét đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc T yêu cầu ly hôn cùng ông Huỳnh Tấn D, đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do bị đơn ông Huỳnh Tấn D có nơi cư trú tại quận Tân Phú nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T có đơn xin vắng mặt, bị đơn ông Huỳnh Tấn D đã được Tòa triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà T và ông D theo qui định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về nội dung tranh chấp:
- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 21 quyển số 20 ngày 16/03/1998 của Ủy ban nhân dân phường Cẩm Phô, thị xã Hội An, tỉnh Quãng Nam có đủ cơ sở xác nhận hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Ngọc T và ông Huỳnh Tấn D là hợp pháp phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Bà Nguyễn Thị Ngọc T trình bày nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống với nhau về mọi mặt, cả hai không có tiếng nói chung nên đã sống ly thân khoảng bốn năm nay.
Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông D mâu thuẫn thực tế có xảy ra vì cả hai đã sống ly thân nhau. Mặt khác, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham dự phiên tòa nhưng ông D vẫn vắng mặt thể hiện ông D không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông D đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên không thể xây dựng gia đình hạnh phúc theo Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “ Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu...có nghĩa vụ sống chung...”. Do vậy, xét yêu cầu ly hôn của bà Vân là có căn cứ và phù hợp quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Huỳnh Văn H, sinh ngày 18/10/1996 và Huỳnh Ngọc Uyên N, sinh ngày 18/01/2006. Bà Thảo xin được nuôi con chung Huỳnh Ngọc Uyên N, không yêu cầu ông D cấp dưỡng cho con.
Hội đồng xét xử xét thấy từ ngày bà T và ông D sống ly thân thì bà T là nguời trực tiếp nuôi dưỡng con chung, nguyện vọng của trẻ là muốn sống cùng mẹ. Mặt khác trẻ là bé gái cần có sự chăm sóc trực tiếp từ nguời mẹ nên cần giao trẻ Huỳnh Ngọc Uyên N cho bà T trực tiếp nuôi duỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp duỡng nuôi con cho ông D do bà T không yêu cầu. Đối với con chung Huỳnh Văn H, sinh ngày 18/10/1996 đã trưởng thành nên không giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà T khai không có tài sản chung, không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, nếu sau nay ông D chứng minh giữa bà T và ông D có tài sản chung và nợ chung thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
- Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000₫ (ba trăm ngàn đồng) do nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T phải nộp không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 264, Điều 266; Điều 267; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc T.
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc T được ly hôn với ông Huỳnh Tấn D. Quan hệ hôn nhân theo Giấy chứng nhận kết hôn số 21 quyển số 20 ngày 16/03/1998 của Ủy ban nhân dân phường Cẩm Phô, thị xã Hội An, tỉnh Quãng Nam chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- - Về con chung: Giao bà Nguyễn Thị Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Huỳnh Ngọc Uyên N, sinh ngày 18/01/2006. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông D do bà T không yêu cầu.
- Đối với con chung Huỳnh Văn H, sinh ngày 18/10/1996 đã trưởng thành nên không giải quyết.
- Khi có lý do chính đáng mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi. Nếu hai bên không tự thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Ông D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Trong trường hợp bà T không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì trên cơ sở lợi ích của con, ông D hoặc bà T, hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- - Về tài sản chung: Không xem xét.
- - Về nghĩa vụ dân sự: Không xem xét.
- Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Ngọc T nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0013631 ngày 06/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Ngọc T đã nộp đủ án phí.
- Quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Trúc Lý |
Bản án số 749/2023/HNGĐ-ST ngày 11/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 749/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
