|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 749/2024/HS-PT
Ngày: 28 - 8 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Toàn
Các Thẩm phán: Ông Chung Văn Kết
Bà Bùi Thị Thu
- Thư ký phiên tòa: Ông Đàm Lê Nhân, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 184/2024/TLPT- HS ngày 28 tháng 02 năm 2024 đối với các bị cáo Trần Nguyễn Q, Nguyễn Văn H do có kháng cáo của các bị cáo Trần Nguyễn Q, Nguyễn Văn H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 16/01/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo:
Trần Nguyễn Q; Giới tính: Nam; Sinh ngày 13/7/1996 tại An Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang; Chỗ ở: phòng không số, nhà thuê tại địa chỉ 8 N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Ngọc T và bà Nguyễn Thị Xuân H1; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Nguyễn Văn H; Giới tính: Nam; Sinh ngày 07/7/1992 tại Nam Định; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn Đ, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định; Chỗ ở: C7/39AB30 ấp D, xã B huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Quốc H2 và bà Nguyễn Thị Thanh L; Bị cáo chưa có vợ con;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/5/2022 (có mặt tại phiên tòa).
Tiền án: Ngày 28/11/2019, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 09 tháng tù về tội “Bắt giữ người trái pháp luật” và tội “Cưỡng đoạt tài sản” (theo Bản án số 596/2019/HS-PT ngày 28/11/2019). Đến ngày 24/4/2021 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.
Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/5/2022 (có mặt tại phiên tòa).
- Người bào chữa:
Luật sư Phạm Tất T1, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H làm việc tại Văn phòng luật sư Phạm Tất T1 bào chữa cho bị cáo Trần Nguyễn Q (có mặt tại phiên tòa).
Luật sư Nguyễn Văn T2, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H làm việc tại Công ty L1 bào chữa cho bị cáo Trần Nguyễn Q (có mặt tại phiên tòa).
Luật sư Lê Thị Ánh T3, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H làm việc tại Công ty L2 và cộng sự bào chữa chỉ định cho bị cáo Nguyễn Văn H (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 27/5/2022, tại trước nhà số I N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, Đội 7 Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an Thành phố H phối hợp với Công an P, quận G và Phòng 7, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Bộ C phát hiện Trần Nguyễn Q điều khiển xe máy biển số 67M1-609.67 phía sau có 02 thùng carton có biểu hiện nghi vấn, nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện bên trong 02 thùng carton có chứa các viên nén màu xanh, chất tinh thể màu trắng và chất bột màu vàng nghi là ma túy nên tổ công tác tiến hành lập biên bản quả tang đối với Trần Nguyễn Q và thu giữ vật chứng 02 thùng carton có đặc điểm như sau:
+ Thùng carton thứ nhất: bên ngoài dán kín bằng băng keo, mặt trên có ghi chữ EMS Việt Nam - Mã vận đơn: EB042165544VN - người nhận: “Trương Anh T4 - hẻm I N, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh - số điện thoại người nhận: 0936.638.xxx”. Bên trong có: 07 hộp giấy bên ngoài có chữ Odol med 3 EXTREME CLEAN, bên trong mỗi hộp đựng 01 bịch giấy màu nâu được quấn băng keo, bên trong chứa nhiều viên nén màu xanh (kết quả giám định đều là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 508,79 gam loại MDMA); 07 hộp giấy bên ngoài có chữ Odol med 3 WHITE & SHINE, bên trong mỗi hộp đựng 01 bịch giấy màu nâu được quấn băng keo, bên trong chứa nhiều viên nén màu xanh (qua giám định đều là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 477,20 gam loại MDMA); 15 hộp giấy bên ngoài có chữ elmex KARIESSCHUTZ, bên trong mỗi hộp đựng 01 bịch giấy màu nâu được quấn băng keo, bên trong có chứa nhiều viên nén màu xanh (qua giám định đều là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 1.110,78 gam loại MDMA); 02 hộp giấy bên ngoài có chữ elmex SENSITIVE, bên trong mỗi hộp đựng 01 (một) bịch giấy màu nâu, được quấn băng keo, bên trong có chứa nhiều viên nén màu xanh (qua giám định đều là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 778,98 gam loại MDMA); 09 hộp giấy bên ngoài có chữ aronal, bên trong mỗi hộp đựng 01 bịch giấy màu nâu, được quấn băng keo bên trong chứa nhiều viên nén màu xanh (qua giám định đều là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 646,05 gam loại MDMA); 06 hộp giấy bên ngoài có chữ meridol, bên trong mỗi hộp đựng 01 bịch giấy màu nâu, được quấn băng keo bên trong chứa nhiều viên nén màu xanh (qua giám định đều là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 2.175,85 gam loại MDMA); 02 hộp giấy bên ngoài có chữ meridol, bên trong mỗi hộp đựng 01 bịch giấy màu nâu, được quấn băng keo bên trong chứa tinh thể màu trắng (qua giám định là ma tuý ở thể rắn có tổng khối lượng 637,44g loại Ketamine); 01 hộp giấy bên ngoài có chữ Oral-B io series 6N bên trong đựng 05 bịch giấy màu nâu, được quấn băng keo bên trong chứa nhiều viên nén màu xanh (qua giám định đều là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 448,03 gam loại MDMA); 10 hộp giấy bên ngoài có chữ Oral-B PULSONIC, bên trong mỗi hộp giấy được quấn băng keo, có chứa nhiều viên nén màu xanh (qua giám định đều là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 5.283,53 gam loại MDMA).
+ Thùng carton thứ hai: bên ngoài được dán kín bằng băng keo, mặt trên có ghi thông tin EMS Việt Nam – Mã vận đơn: EB042165535VN – người nhận: “Trương Anh T4, hẻm I N quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, số điện thoại người nhận: 0936.638.xxx”. Bên trong có: 02 hộp giấy bên ngoài có chữ Odol med 3 naturals, bên trong mỗi hộp có 01 bịch giấy màu nâu, được quấn băng keo, chứa nhiều viên nén màu xanh (qua giám định đều là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 177,94 gam loại MDMA); 13 hộp giấy bên ngoài có chữ Odol med 3 EXTREME CLEAN LANGZEIT-FRISCHE, bên trong mỗi hộp có 01 bịch giấy màu nâu, được quấn băng keo, chứa nhiều viên nén màu xanh (qua giám định đều là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 1.010,32 gam loại MDMA); 15 hộp giấy bên ngoài có chữ Odol med 3 TIEFENREINIGUNG, bên trong mỗi hộp có 01 bịch giấy màu nâu, được quấn băng keo, chứa nhiều viên nén màu xanh (qua giám định đều là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 1.281,76 gam loại MDMA); 17 hộp giấy bên ngoài có chữ Odol med 3 WHITE&SHINE, bên trong mỗi hộp có 01 bịch giấy màu nâu, được quân băng keo, chứa nhiều viên nén màu xanh (qua giám định đều là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 1.428,63 gam loại MDMA); 01 hộp giấy bên ngoài có chữ medisana, bên trong có 01 túi vải có chứa nhiều viên nén màu xanh (kết quả giám định đều là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 443,99 gam loại MDMA); 01 hộp giấy bên ngoài có chữ elmex SENSITIVE, bên trong có 01 bịch giấy màu nâu, được quấn băng keo, chứa tinh thể màu trắng (kết quả giám định đều là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 281,74 gam loại Ketamine); 01 bịch giấy, bên trong có chứa chất bột màu vàng (có khối lượng 96,93 gam, kết quả giám định không tìm thấy ma túy).
Tổng khối lượng ma túy có trong 02 thùng carton trên xe gắng máy của Trần Nguyễn Q là: 15.771,85g MDMA và 919,18g Ketamine (quy đổi tổng khối lượng ma túy nêu trên sang MDMA tương đương 16.078,2433gam MDMA).
Kết quả điều tra ban đầu, Q khai nhận: Số ma tuý trên do 01 người tên T4 (không rõ lai lịch) nhờ Q đi nhận và đem giao cho người tên Q1 có số điện thoại 0899.999.xxx. Qua điều tra, xác định Q1 tên thật là Nguyễn Văn H.
Mở rộng điều tra, ngày 27/5/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Thành phố H tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Nguyễn Văn H tại địa chỉ C7/39AB30 ấp D, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh đã phát hiện thu giữ tại phòng đầu tiên bên phải (theo hướng cầu thang đi lên) ở lầu 1, gồm:
+ 01 hộp giấy hình vuông màu vàng, bên trong có: 02 gói nylon chứa nhiều viên nén hình tròn màu xanh, một mặt có in hình chữ LV lồng vào nhau (kết quả giám định đều là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 66,4619 gam loại MDMA); 01 gói nylon chứa tinh thể màu trắng (qua giám định là ma tuý ở thể rắn có khối lượng 10,0359g loại Ketamine); 01 bịch nylon chứa chất bột màu trắng (qua giám định là ma tuý ở thể rắn có khối lượng 35,4707g loại Ketamine) và 01 dụng cụ sử dụng ma túy, 01 muỗng bằng kim loại;
+ 01 thùng xốp bên ngoài dán bắng keo màu vàng-xanh, bên trong có: 02 gói nylon chứa nhiều mảnh vụn viên nén màu xanh (qua giám định đều là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 22,2218 gam loại MDMA, Ketamine); 01 gói nylon chứa nhiều mảnh vụn viên nén màu vàng cam (qua giám định đều là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 20,9620 gam loại MDMA); 02 gói nylon chứa chất bột màu cam (qua giám định đều là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 13,5524 gam loại MDMA); 01 gói nylon chứa chất bột màu cam nhạt (qua giám định đều là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 4,6584 gam loại MDMA, Ketamine); 03 gói nylon chứa nhiều mảnh vụn viên nén màu xám (qua giám định đều là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 18,3978 gam loại MDMA); 01 gói nylon chứa 02 mảnh vụn viên nén màu xanh (kết quả giám định đều là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 0,2876 gam loại MDMA); 01 gói nylon chứa chất bột màu xanh (qua giám định đều là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 1,1335 gam loại MDMA, Methamphetamine); 01 gói nylon chứa chất bột màu hồng (qua giám định đều là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 2,2263 gam loại MDMA); 01 gói nylon chứa nhiều mảnh vụn viên nén màu hồng (kết quả giám định đều là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 1,7653 gam loại MDMA); 02 gói nylon chứa nhiều mảnh vụn viên nén màu vàng nhạt (qua giám định đều là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 25,6388 gam loại MDMA); 01 gói nylon chứa chất bột màu tím (qua giám định đều là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 0,7990 gam loại MDMA); 01 gói nylon chứa chất bột màu vàng (kết quả giám định đều là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 0,8635 gam loại MDMA); 01 hộp giấy có in chữ DOOG&CAAT bên trong có 03 gói nylon bên trong chứa nhiều vỏ bọc có viên nén có tổng khối lượng 91,00 gam (qua giám định không tìm thấy ma túy); 01 thùng xốp màu trắng, bên trong có 80 gói nylon màu xanh in chữ CRISPY FRUIT, trong mỗi gói nylon đều chứa chất bột màu trắng (kết quả giám định đều là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 578,02 gam loại MDMA, Methamphetamine, Nimetazepam); 01 thùng xốp màu trắng, bên trong có 01 gói nylon chứa nhiều viên nén hình tròn màu vàng nâu, một mặt có in hình viên kim cương (qua giám định đều là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 28,7159 gam loại MDMA) và 02 vỏ bịch nylon không chứa gì; 01 thùng carton in chữ VIETTIEN, bên trong có 17 gói nylon màu bạc, trong mỗi gói nylon đều chứa chất bột màu vàng nhạt có tổng khối lượng 16.425,69 gam (qua giám định không tìm thấy ma túy); 01 thùng carton in chữ VIETTIEN, bên trong có 15 gói nylon màu bạc, trong mỗi gói nylon đều chứa chất bột màu vàng nhạt có tổng khối lượng 14.726,51 gam (qua giám định không tìm thấy ma túy).
Tổng khối lượng ma túy thu giữ tại chỗ ở đối của Nguyễn Văn H là: 179,67g MDMA; 45,50g Ketamine; 26,88g MDMA và Ketamine; 1,13g Methamphetamine và MDMA; 578,02g Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam (quy đổi tổng khối lượng ma túy nêu trên sang MDMA tương đương 397,1394gam MDMA).
Toàn bộ số ma túy thu giữ trong vụ án đã được giám định, kết quả thể hiện tại Kết luận giám định số 3060/KLGĐ-H ngày 03/6/2020 của Phòng K, Công an Thành phố H.
Quá trình điều tra Trần Nguyễn Q và Nguyễn Văn H đã khai nhận như sau:
- Trần Nguyễn Q đã khai: vào khoảng tháng 01/2022, thông qua bạn bè giới thiệu nên Q quen biết người đàn ông tên B (không rõ lai lịch) và B đã cho Q số điện thoại của người đàn ông tên T4 (không rõ lai lịch) để làm quen. Qua tiếp xúc, T4 đề nghị Q đi nhận và chuyển bưu phẩm cho người khác theo yêu cầu của T4 và T4 sẽ trả tiền công cho Q nhưng T4 chưa nói cụ thể bao nhiêu thì Q đồng ý. Bắt đầu từ tháng 4/2022 đến khi bị bắt, Q đã nhận bưu phẩm theo yêu cầu của T4 03 lần, cụ thể là:
+ Lần 1: Vào khoảng giữa tháng 4/2022, T4 đưa cho Q 01 điện thoại hiệu Nokia có kèm theo sim số 0936.638.313 để Q sử dụng liên lạc nhận bưu phẩm và liên hệ với người nhận hàng có tên là Q1. Sau đó, nhân viên chuyển phát nhanh đã gọi điện cho Q báo đến địa chỉ 9 N, Phường C, quận G để nhận bưu phẩm. Khi nhận được bưu phẩm thì Q sử dụng số điện thoại nêu trên gọi đến số 0899.999.852 của Q1 để giao hàng thì được Q1 đồng ý nhận hàng. Lần này T4 chưa trả công cho Q.
+ Lần 2: Vào khoảng cuối tháng 4/2022, cũng như lần thứ nhất, nhân viên chuyển phát nhanh liên lạc với Q đến địa chỉ 9 N, Phường C, quận G để nhận bưu phẩm. Sau khi nhận bưu phẩm thì Q đem bưu phẩm giao cho Q1. Lần này, T4 trả công cho Q 8.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản số [...] của Q mở tại Ngân hàng TMCP S (S1), Phòng G, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Lần 3: Vào ngày 27/5/2022, T4 tiếp tục gọi điện yêu cầu Q đến địa chỉ 9 N, Phường C, quận G để nhận bưu phẩm cho T4. Do trước đó Q nhận được số tiền công lớn nên Q nghi ngờ và hỏi T4 “thùng hàng bưu phẩm chứa gì” thì T4 trả lời là “hàng dễ vỡ”. Q hỏi lại “hàng dễ vỡ là hàng gì”, T4 trả lời là “ma tuý thuốc lắc”. Lúc này, Q mới biết 02 lần trước đó trong thùng bưu phẩm mà T4 yêu cầu Q nhận và đem giao cho Q1 có chứa ma tuý nhưng Q không rõ số lượng và loại ma tuý gì. Tuy nhiên, vì cần tiền trang trải cuộc sống nên Q vẫn tiếp tục đồng ý đi nhận bưu phẩm chứa ma tuý theo yêu cầu của T4. Đến khoảng hơn 14 giờ cùng ngày, khi nhận xong 02 thùng bưu phẩm có chứa ma tuý, Q đặt lên xe gắn máy của Q thì bị lực lượng chức năng kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 02 thùng carton dạng bưu phẩm, bên trong chứa các loại ma tuý như nêu trên.
- Nguyễn Văn H khai nhận: vào khoảng tháng 3/2022, thông qua bạn bè Hai quen biết với người đàn ông tên thường gọi là “Đan T5” (không rõ lai lịch). Qua trao đổi, “Đan T5” đặt vấn đề nhờ H đứng ra nhận và giao đồ thì H đồng ý. Sau đó, H đã 02 lần nhận và giao cho “Đan T5”, cụ thể là:
+ Lần 1: vào khoảng giữa tháng 4/2022, “Đan T5” điện thoại cho H để nhờ H nhận hàng dùm. Sau đó, Q sử dụng số điện thoại 0936.638.xxx gọi điện thoại vào số điện thoại 0899.999.xxx của Hai để giao hàng và do “Đan T5” đã dặn trước đó nên H đến điểm hẹn tại đầu đường C, ấp D, xã B gặp Q để nhận 01 thùng giấy dán kín bên ngoài. Sau khi nhận được thùng hàng, H liên hệ lại với “Đan Trường” thì được “Đan Trường” nhờ đi giao thùng hàng trên giao cho 01 người đàn ông (không rõ tên và lai lịch) mặc áo tài xế G1 trên đường C, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh và H đã giao xong thùng hàng trên.
+ Lần 2: Khoảng cuối tháng 4/2022, “Đan T5” tiếp tục nhờ H đi nhận hàng. Sau đó, Q gọi điện thoại cho H đến địa điểm như lần trước, khi nhận xong 01 thùng hàng từ Q, H mang về chỗ ở và mở ra xem bên trong thì phát hiện có nhiều loại ma tuý tổng hợp nên đã gọi điện hỏi “Đan T5” về số ma tuý trên, “Đan T5” nói H cất giấu sẽ có người đến nhận thì được H đồng ý. Đến ngày 27/5/2022, bị cơ quan Công an tiến hành khám xét khẩn cấp và thu giữ toàn bộ số ma tuý như nêu trên.
Tiến hành cho Nguyễn Văn H và Trần Nguyễn Q nhận dạng nhau, kết quả: Hai xác định được Q là người đã 02 lần giao bưu phẩm bên trong có chứa ma túy cho H. Ngược lại Q cũng xác định được H chính là người tên Q1, sử dụng số điện thoại 0899.999.xxx đã 02 lần nhận bưu phẩm từ Q giao.
Tại Cáo trạng số 448/Ctr-VKS-P1 ngày 21/8/2023, Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:
- Bị cáo Trần Nguyễn Q về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2015, với khối lượng ma túy 15.771,85g MDMA; 919,18g Ketamine.
- Bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2015, đối với khối lượng ma túy 179,6705g MDMA; 45,5066g Ketamine; 26,8802g MDMA và Ketamine; 1,1335g Methamphetamine và MDMA; 578,02g Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 16/01/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Căn cứ điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 250; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 40 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Trần Nguyễn Q tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 27/5/2022, tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Xử phạt bổ sung: Trần Nguyễn Q phải nộp số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
Căn cứ điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 39 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Nguyễn Văn H tù chung thân về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 28/5/2022.
Xử phạt bổ sung: Nguyễn Văn H phải nộp số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra, bản án còn tuyên phần xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo.
Ngày 18/01/2024, bị cáo Trần Nguyễn Q có đơn kháng cáo cho rằng oan sai.
Ngày 22/01/2024, bị cáo Nguyễn Văn H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 26/01/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 08/QĐ-VKS-P1, kháng nghị một phần bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn H, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn H tử hình.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Phần xét hỏi:
Bị cáo Trần Nguyễn Q giữ nguyên kháng cáo và trình bày: Bị cáo không biết số hàng mà bị cáo nhận vận chuyển khi bị bắt quả tang là ma túy. Ở giai đoạn điều tra, bị cáo bị ép cung để biết là khi nhận chuyển hàng là có ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Bị cáo Nguyễn Văn H giữ nguyên kháng cáo và trình bày: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo là quá nghiêm khắc.
Phần tranh luận
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
Sửa một phần kháng nghị, đề nghị Hội đồng xét xử hủy Bản án sơ thẩm do cơ quan tố tụng sơ thẩm chưa truy tố đối với hành vi vận chuyển ma túy của bị cáo H đối với lần vận chuyển ma túy chung với bị cáo Q bị bắt quả tang.
Phần đối đáp của người bào chữa cho bị cáo Trần Nguyễn Q:
Các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án không phù hợp với hành vi vận chuyển ma túy mà cơ quan tố tụng sơ thẩm truy tố và xét xử, có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại theo đúng quy định của pháp luật.
Phần đối đáp của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H:
Cáo trạng không truy tố về hành vi vận chuyển ma túy lần cuối cùng của bị cáo nên không thể xét xử đối với bị cáo về hành vi này. Đề nghị hủy bản án sơ thẩm để truy tố, xét xử đúng quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho các bị cáo giữ nguyên quan điểm về phần tranh tụng của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.
Phần các bị cáo nói lời sau cùng:
Các bị cáo vẫn giữ nguyên lời trình bày như trong nội dung kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại hành vi phạm tội của bị cáo Q và xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Các bị cáo Trần Nguyễn Q, Nguyễn Văn H thực hiện việc kháng cáo theo đúng quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 08/QĐ-VKS-P1 ngày 26/01/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là đúng thẩm quyền và còn trong thời hạn luật định nên hợp lệ.
[2] Về nội dung:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định:
[2.1] Đối với bị cáo Trần Nguyễn Q: Vào khoảng tháng 01/2022, thông qua bạn bè giới thiệu, Trần Nguyễn Q quen biết người đàn ông tên B (không rõ lai lịch). B cho Q số điện thoại của người đàn ông tên T4 (không rõ lai lịch). Qua tiếp xúc, T4 đề nghị Q đi nhận và chuyển bưu phẩm theo yêu cầu của T4 để nhận tiền công thì Q đồng ý. Bắt đầu từ tháng 4/2022 đến ngày 27/5/2022, Q đã nhận bưu phẩm để giao theo yêu cầu của T4 03 lần, cụ thể:
Lần 1: Vào khoảng giữa tháng 4/2022, T4 đưa cho Q 01 điện thoại hiệu Nokia có kèm theo sim số điện thoại 0936.638.xxx để Q sử dụng liên lạc với T4, liên lạc nhận bưu phẩm và liên hệ giao hàng cho Q1 (Q1 tên thật là Nguyễn Văn H). Sau đó, nhân viên chuyển phát nhanh đã gọi điện cho Q báo đến địa chỉ 9 N, Phường C, quận G để nhận bưu phẩm và Q đã nhận hàng xong, sử dụng điện thoại N gọi đến số 0899.999.xxx giao hàng cho Q1 (Nguyễn Văn H) tại hẻm C thuộc ấp D P, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Lần 2: Vào khoảng cuối tháng 4/2022, cũng như lần thứ nhất, nhân viên chuyển phát nhanh liên lạc với Q đến địa chỉ 9 N, Phường C, quận G để nhận bưu phẩm. Sau khi nhận bưu phẩm, Q đem giao cho Q1 (Nguyễn Văn H). Sau đó T4 trả công cho Q 8.000.000 đồng.
Lần 3: Ngày 27/5/2022, T4 tiếp tục gọi điện yêu cầu Q đến địa chỉ 9 N, Phường C, quận G để nhận bưu phẩm và giao theo yêu cầu của T4. Do trước đó Q nhận được số tiền công lớn nên Q nghi ngờ và hỏi T4 “thùng hàng bưu phẩm chứa gì” thì T4 trả lời là “hàng dễ vỡ”, rồi Q hỏi lại “hàng dễ vỡ là hàng gì”, T4 trả lời là "kẹo" (Q biết là ma tuý thuốc lắc), nhưng Q vẫn tiếp tục đồng ý đi nhận bưu phẩm và đi giao theo yêu cầu của T4. Đến khoảng hơn 14 giờ cùng ngày, khi vừa nhận xong 02 thùng bưu phẩm có chứa ma tuý, Q đặt lên xe gắn máy của Q thì bị lực lượng chức năng kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Q và thu giữ 02 thùng carton dạng bưu phẩm, bên trong chứa các loại ma tuý (qua giám định có khối lượng là 15.771,85g MDMA và 919,18g Ketamine). Q khai nhận số ma túy trên Q nhận để chuẩn bị đem giao cho Q1.
[2.2] Đối với bị cáo Nguyễn Văn H: Qua điều tra ban đầu Trần Nguyễn Q đã hợp tác với Cơ quan điều tra để xác định được đối tượng nhận hàng tên Quân chính là Nguyễn Văn H. Qua khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn H tại địa chỉ C7/39AB30 ấp D, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thu giữ ma túy (qua giám định có khối lượng là: 179,6705g MDMA; 45,5066g Ketamine; 26,8802g MDMA và Ketamine; 1,1335g Methamphetamine và MDMA; 578,02g Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam).
Nguyễn Văn H khai vào khoảng tháng 3/2022, thông qua bạn bè Hai quen biết với người đàn ông tên thường gọi là “Đan T5” (không rõ lai lịch). Qua trao đổi, “Đan T5” đặt vấn đề nhờ H nhận hàng để đi giao giùm “Đan T5” thì H đồng ý, sau đó H đã 02 lần nhận, giao hàng giùm cho “Đan T5”, cụ thể:
Lần 1: Vào khoảng giữa tháng 4/2022, “Đan T5” gọi điện thoại cho H nói có người sẽ liên hệ Hai để giao hàng, "Đan T5" nhờ H nhận hàng giùm thì H đồng ý. Sau đó, Q gọi điện cho H hẹn giao 01 thùng hàng. Rồi Q chở thùng hàng đến giao cho H tại đầu hẻm C thuộc ấp D P, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh như đã hẹn. Sau khi nhận thùng hàng này thì H chở đi giao cho 01 người đàn ông (không rõ tên và lai lịch) mặc áo tài xế G1 trên đường C, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh theo yêu cầu của "Đan T5".
Lần 2: Khoảng cuối tháng 4/2022, “Đan T5” tiếp tục gọi điện nhờ H đi nhận hàng thì H đồng ý. Sau đó, Q gọi điện thoại cho H hẹn giao hàng tại địa điểm như lần trước. Khi H nhận xong 01 thùng hàng từ Q thì H mang về chỗ ở và mở ra xem, phát hiện bên trong có nhiều loại ma tuý tổng hợp nên H đã gọi điện hỏi “Đan T5” về số ma tuý trên, “Đan T5” nói H cất giấu sẽ có người đến nhận nên H đã cất giấu và đến ngày 27/5/2022 thì Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Thành phố H tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của H và thu giữ toàn bộ số ma tuý như nêu trên.
Ngày 27/5/2022, “Đan T5” tiếp tục gọi điện nhờ H đi nhận hàng thì H đồng ý. Sau đó Q liên hệ hẹn giao hàng cho H tại đầu hẻm C thuộc ấp D P, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi H đang trên đường đi nhận hàng do Q giao thì bị cơ quan công an tạm giữ, khám xét.
[3] Đối với hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn H
Tại Bản kết luận điều tra vụ án hình sự đề nghị truy tố số 341-25/KLĐT-PC04 ngày 05/01/2023, Bản kết luận điều tra bổ sung vụ án hình sự số 341-29/KLĐTBS-PC04(DD5) ngày 04/8/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H nhận định: "- Bị can Nguyễn Văn H đã phạm vào tội "Vận chuyển trái phép chất ma túy" và phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng khối lượng ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác định và thu giữ gồm: 179,6705 gam, loại MDMA; 45,5066 gam loại Ketamine; 26,8802 gam, loại MDMA, Ketamine; 1,1335 gam loại Methamphetamine, MDMA; 578,02 gam loại Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam quy định tại khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 2015".
Tại Cáo trạng số 448/Ctr-VKS-P1 ngày 21/8/0023 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: "Đối với Nguyễn Văn H, ngày 27/5/2022 Cơ quan điều tra tiến hành khám xét chỗ ở đã thu giữ tổng cộng khối lượng ma túy gồm: 179,6705g MDMA; 45,5066g Ketamine; 26,8802g MDMA và Ketamine; 1,1335g Methamphetamine và MDMA; 578,02g Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam và 254.107,96g không tìm thấy ma túy. Như vậy, đã có đủ cơ sở xác định Nguyễn Văn H phải chịu trách nhiệm hình sự, về tội "Vận chuyển trái phép chất ma túy" với tổng khối lượng ma túy đã thu giữ như trên".
Như vậy, quá trình điều tra, truy tố xác định bị cáo Nguyễn Văn H chỉ phạm tội "Vận chuyển trái phép chất ma túy" đối với khối lượng ma túy thu giữ tại nhà bị cáo H (là khối lượng ma túy bị cáo H khai bị cáo nhận lần 02), mà không truy tố bị cáo H đối với khối lượng ma túy 15.771,85g MDMA và 919,18g Ketamine thu giữ của bị cáo Q (là khối lượng ma túy H đang đi nhận lần 3).
Tòa án cấp sơ thẩm nhận định: "[2.4] Như vậy, khối lượng ma túy mà các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự cụ thể như sau: ...- Nguyễn Văn H phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi "Vận chuyển trái phép chất ma túy" đối với khối lượng ma túy thể rắn bị thu giữ khi khám xét chỗ ở của H là 179,67g MDMA; 45,50g Ketamine; 26,88g MDMA và Ketamine; 1,13g Methamphetamine và MDMA; 578,02g Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam".
Tại giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra không buộc bị cáo H phải chịu trách nhiệm hình sự đối với khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo Q; tại giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát cũng chưa truy tố bị cáo H về khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo Q. Do đó, tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo H với khối lượng ma túy thu giữ tại nhà bị cáo H là phù hợp với phạm vi truy tố tại Cáo trạng của Viện kiểm sát.
Tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 08/QĐ-VKS-P1 ngày 26/01/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị theo hướng tăng nặng hình phạt đối với bị cáo H đối với hành vi vận chuyển ma túy lần sau cùng. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa phúc thẩm đề nghị hủy Bản án sơ thẩm theo hướng yêu cầu cơ quan tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm truy tố đối với hành vi vận chuyển ma túy lần sau cùng của bị cáo H. Khi điều tra, truy tố lại cần xem xét thêm lời khai của bị cáo Q về việc bị ép cung.
Căn cứ lời khai của các bị cáo, lời bào chữa của các luật sự, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải điều tra lại để làm rõ khối lượng ma túy mà bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu trách nhiệm hình sự, các lần phạm tội của bị cáo, từ đó làm căn cứ để tòa án xét xử theo đúng quy định của pháp luật; đồng thời, cần phải xem xét tương quan, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo Trần Nguyễn Q, Nguyễn Văn H trong cùng một vụ án để có căn cứ giải quyết vụ án toàn diện, tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo.
[4] Từ nhận định tại mục [3], Hội đồng xét xử xét thấy tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo H phù hợp với phạm vi truy tố tại Cáo trạng của Viện kiểm sát, tòa án cấp sơ thẩm không có lỗi trong việc xét xử nhưng do kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cần phải làm rõ mà việc điều tra, truy tố tại cấp phúc thẩm không thể bổ sung, khắc phục được, nên cần hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để điều tra lại. Khi điều tra lại, truy tố, xét xử vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng cần làm rõ khối lượng ma túy mà mỗi bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự để có căn cứ xét xử đúng người, đúng tội, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, làm rõ những nội dung mà luật sư bào chữa cho các bị cáo đề nghị.
[5] Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Trần Nguyễn Q, Nguyễn Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 1 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 16/01/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh để điều tra lại theo quy định pháp luật.
Tiếp tục tạm giam các bị cáo Trần Nguyễn Q, Nguyễn Văn H cho đến khi Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý lại hồ sơ vụ án.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Trần Nguyễn Q, Nguyễn Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Đức Toàn |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
|
Các Thẩm phán |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
|
Chung Văn Kết |
Bùi Thị Thu |
Vũ Đức Toàn |
Bản án số 749/2024/HS-PT ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vận chuyển trái phép chất ma túy
- Số bản án: 749/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 16/01/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh để điều tra lại theo quy định pháp luật
