Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 - HÀ NỘI

***

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 748/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 15/12/2025.

“V/v Tranh chấp xin ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Đăng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Lưu.

Bà Nguyễn Thị Mai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Hà – Thư ký TAND Khu vực 7 – Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 574/2025/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2025, về việc “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2025/QĐXX-ST ngày 26 tháng 11 năm 2025, giữa các bên đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Tố N, sinh năm 1989.

Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 24/7/2021.

Địa chỉ: Thôn P, xã T, thành phố Hà Nội. (có mặt)

- Bị đơn: Anh Trần Văn H, sinh năm 1987.

Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 16/7/2021.

Địa chỉ: Thôn P, xã T, thành phố Hà Nội. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 22/10/2025 và trong quá trình giải quyết xét xử, nguyên đơn chị Phạm Thị Tố N trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Trần Văn H có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương năm 2007, vợ chồng kết hôn có tự do tìm hiểu, tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện M, thành phố Hà Nội, nay là UBND xã T, thành phố Hà Nội ngày 26/12/2007.

Sau khi kết hôn chị về gia đình anh H làm dâu ngay, vợ chồng sống chung cùng với bố mẹ anh H tại Xóm A, P, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội, nay là Xóm A, thôn P, xã T, thành phố Hà Nội được khoảng 07 năm vợ chồng chị ra ở riêng.

Quá trình chung sống vợ chồng chị sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ việc sau khi kết hôn được khoảng 04 tháng thì chị phát hiện ra anh H bị nghiện ma túy. Chị và gia đình đã đưa anh H đi cai nghiện ma túy, tuy nhiên khi đi về anh H vẫn không từ bỏ được ma túy, vẫn tiếp tực sử dụng ma túy. Trong suốt thời gian từ khi chị kết hôn với anh H cho đến nay, anh H đã đi cai nghiện ma túy tự nguyện và bắt buộc tổng cộng là 09 lần, trong đó có 07 lần cai nghiện tự nguyện và 02 lần bị đưa đi cai nghiện bắt buộc, lần cai nghiện bắt buộc đầu tiền từ năm 2010 đến năm 2012 thì được về, lần 2 từ năm 2018 đến năm 2020 thì được về. Anh H nghiện ma túy không có trách nhiệm gì với gia đình con cái, chỉ chị một mình ở nhà chăm lo cho gia đình và các con. Hiện nay vợ chồng sống ly thân với nhau chị đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ ở được khoảng 02 tháng, ở cùng thôn P, xã T, Hà Nội. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.

Về con chung: Chị và anh H có 03 con chung là cháu Trần Trường G, sinh ngày 09/11/2008, cháu Trần Mai N1, sinh ngày 22/7/2012 và cháu Trần Phạm Minh N2, sinh ngày 09/11/2015. Ly hôn chị đề nghị nuôi 02 con là cháu Trần Mai N1 và cháu Trần Phạm Minh N2, để anh H nuôi cháu Trần Trường G cho đến khi con thành niên đủ 18 tuổi, không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

Hiện nay chị đang làm tự do, làm dịch vụ giấy tờ về đất đai, môi giới buôn bán bất động sản, thu nhập bình quân từ 10.000.000đ đến 20.000.000đ/tháng, có tháng được nhiều hơn.

- Về tài sản chung, công sức đóng góp, nợ chung: Vợ chồng chị tự thỏa thuận giải quyết, chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Trần Văn H trình bày:

- Về hôn nhân: Anh và chị Phạm Thị Tố N có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương năm 2007, vợ chồng kết hôn có tự do tìm hiểu, tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện M, thành phố Hà Nội, nay là UBND xã T, thành phố Hà Nội, đăng ký ngày 26/12/2007.

Sau khi kết hôn xong thì vợ chồng anh sống chung cùng với bố mẹ anh đến năm 2015 thì vợ chồng ra ở riêng. Quá trình chung sống vợ chồng anh chung sống với nhau 19 năm, vợ chồng anh sống thỉnh thoảng có xảy ra mâu thuẫn, tuy nhiên đó là những mâu thuẫn nhỏ, gia đình nào cũng xảy ra, anh mong muốn Tòa án hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con cái trưởng thành. Anh xác nhận từ khi kết hôn đến nay thì anh đã đi cai nghiện ma túy 07 lần. Đến tháng 10/2025 vợ chồng có mâu thuẫn, xô xát thì chị N dọn ra thuê nhà ở nên vợ chồng sống ly thân. Nay chị N làm đơn xin ly hôn anh mong muốn vợ chồng về đoàn tụ để nuôi dạy con cái trưởng thành nên anh không đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng anh có 03 con chung là cháu Trần Trường G, sinh ngày 09/11/2008, cháu Trần Mai N1, sinh ngày 22/7/2012 và cháu Trần Phạm Minh N2, sinh ngày 09/11/2015. Hiện nay cháu N2 đang ở cùng với chị N, cháu G, cháu N1 đang ở với anh. Bản thân anh mong muốn vợ chồng về để cùng nhau nuôi dạy con cái trưởng thành. Nếu đặt giả thiết ly hôn đặt ra thì anh đề nghị được nuôi cháu G và cháu N2, chị N nuôi cháu N1. Anh và chị N tự thỏa thuận về việc cấp dưỡng nuôi con, không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, công sức đóng góp, nợ chung: Anh đề nghị tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán; Thư ký Tòa án; Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về ý kiến giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  • + Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Tố N. Cho chị Phạm Thị Tố N được ly hôn anh Trần Văn H.
  • + Về con chung: Giao con chung là cháu Trần Trường G, sinh ngày 09/11/2008 cho anh Trần Văn H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao con chung là cháu Trần Mai N1 và cháu Trần Phạm Minh N2 cho chị Phạm Thị Tố N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có quyết định khác của Tòa án thay thế.
  • + Về tài sản chung, riêng, công sức, công nợ: Chị N, anh H không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
  • + Về án phí: Chị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Chị Phạm Thị Tố N xin ly hôn anh Trần Văn H, anh H có hộ khẩu thường trú và cư trú tại Xóm A, thôn P, xã T, thành phố Hà Nội. Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết tại Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội.

Tại phiên tòa bị đơn anh Trần Văn H vắng mặt lần 2 không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định chung.

[2]. Về nội dung: Chị Phạm Thị Tố N kết hôn với anh Trần Văn H trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện M, TP Hà Nội, nay là UBND xã T, thành phố Hà Nội; Giấy chứng nhận kết hôn số 96, quyển số 01/2007 ngày 26/12/2007. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống chị N và anh H đều xác nhận vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn. Chị N cho rằng mâu thuẫn là do anh H bị nghiện ma túy, từ khi kết hôn cho đến nay anh H thường xuyên đi cai nghiện ma túy nhưng vẫn không từ bỏ được ma túy. Anh H cho rằng mâu thuẫn là do những mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống. Chị N làm đơn ly hôn, anh H không đồng ý, mong muốn vợ chồng về đoàn tụ để nuôi dạy con cái trưởng thành.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Để tồn tại quan hệ hôn nhân thì hai bên đều cùng phải yêu thương, tin tưởng, tôn trọng nhau, cùng có trách nhiệm với nhau, với gia đình để cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Chị N xin được ly hôn, anh H không đồng ý ly hôn, tuy nhiên bản thân anh H nghiện ma túy nhưng không chịu thay đổi mà vẫn tiếp tục nghiện ma túy, theo chị N xác định anh H đã đi cai nghiện 09 lần, trong đó có 07 lần cai nghiện tự nguyện và 02 lần đi cai nghiện bắt buộc. Sau khi cai nghiện về không tu chí làm ăn, chăm lo cho gia đình vợ con mà vẫn tiếp tục sử dụng ma túy. Như vậy mục đích hôn nhân của chị N và anh H không đạt được, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, việc chị N xin ly hôn là có căn cứ, cần chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn của chị N, cho chị N được ly hôn anh H để ổn định cuộc sống của các bên là phù hợp với quy định của pháp luật. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[3]. Về con chung: Chị N, anh H đều xác nhận vợ chồng có 03 con chung là cháu Trần Trường G, sinh ngày 09/11/2008, cháu Trần Mai N1, sinh ngày 22/7/2012 và cháu Trần Phạm Minh N2, sinh ngày 09/11/2015.

Ly hôn chị N đề nghị xin được nuôi 02 con chung là cháu Trần Mai N1 và cháu Trần Phạm Minh N2, anh H cũng đề nghị được nuôi 02 con chung là cháu Trần Trường G và cháu Trần Phạm Minh N2.

Xét yêu cầu về việc nuôi con của chị N và anh H, Hội đồng xét xử nhận thấy: Việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là trách nhiệm của cha mẹ. Xét thấy cháu N1 và cháu N2 có nguyện vọng ở với chị N, cháu G có nguyện vọng ở với anh H. Anh H vừa đi cai nghiện ma túy về công việc chưa ổn định, chị N hiện làm tự do nhưng có thu nhập ổn định hơn anh H nên thấy cần giao cháu N1 và cháu N2 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu G cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N, anh H tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[4]. Về tài sản chung, riêng, công sức, công nợ: Chị N, anh H không đề nghị nên không đặt ra giải quyết.

[5]. Về án phí: Chị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 235 Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phạm Thị Tố N. Cho chị Phạm Thị Tố N được ly hôn anh Trần Văn H.
  2. Về con chung: Xác nhận chị N và anh H có 03 con chung là cháu Trần Trường G, sinh ngày 09/11/2008, cháu Trần Mai N1, sinh ngày 22/7/2012 và cháu Trần Phạm Minh N2, sinh ngày 09/11/2015.

Giao cháu Trần Mai N1 và cháu Trần Phạm Minh N2 cho chị Phạm Thị Tố N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu Trần Trường G cho anh Trần Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu thành niên đủ 18 tuổi (hoặc có quyết định khác của Tòa án thay thế).

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị N, anh H tự thỏa thuận về việc cấp dưỡng nuôi con, không đề nghị Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Ly hôn, chị N và anh H đều có quyền đi lại, thăm nom và chăm sóc con chung không ai được cản trở.

  1. Về tài sản chung, riêng, công sức, công nợ: Không đặt ra giải quyết.
  2. Về án phí: Chị N phải nộp 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0014735 ngày 04/11/2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội. (đã nộp đủ).
  3. Về quyền kháng cáo: Chị N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh H vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND Khu vực 7 – Hà Nội;
  • - THADS thành phố Hà Nội;
  • - Phòng THADS Khu vực 7 – Hà Nội;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - UBND xã Tiến Thắng (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 96 ngày 26/12/2007);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Minh Đăng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 748/2025/HNGĐ - ST ngày 15/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI về tranh chấp xin ly hôn

  • Số bản án: 748/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger