Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 748/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 05/12/2025

V/v: “Xin ly hôn”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-------------------------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Nhung – Thẩm phán

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Kim Dung

2. Bà Đào Minh Chi

Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Đức Anh - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Hà Nội xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 414/2025/TLST–HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 683/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Thủy T, sinh năm 1997 (có mặt)

HKTT và chỗ ở: Số G hẻm A B, phường B, thành phố Hà Nội.

(Có mặt tại phiên tòa)

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1988 (vắng mặt)

HKTT: Số G hẻm A, phường B, thành phố Hà Nội.

Chỗ ở: Hiện đang chấp hành án phạt tù tại phân trại 2, Trại giam T1, tỉnh Thanh Hóa.

(Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai và các văn bản tố tụng khác tại Tòa án, nguyên đơn chị Phạm Thị Thủy T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Thủy T và anh Nguyễn Văn C có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, H, thành phố Hà Nội (nay là UBND phường B, thành phố Hà Nội) vào ngày 06/03/2017. Trong quá trình chung sống, chị Phạm Thị Thủy T và anh Nguyễn Văn C có hạnh phúc thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp, vợ chồng không có tiếng nói chung. Đến tháng 12/2023, anh Nguyễn Văn C bị Cơ quan cảnh sát điều tra bắt và bị Tòa án tuyên phạt 07 năm 06 tháng tù về tội danh “mua bán trái phép chất ma túy”. Hiện anh C đang chấp hành án phạt tù tại phân trại 2, Trại giam T1, tỉnh Thanh Hóa. Chị Phạm Thị Thủy T xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn C.

- Về con chung: Chị Phạm Thị Thủy T và anh Nguyễn Văn C có 02 con chung là cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 11/05/2017 và cháu Nguyễn Bảo A1, sinh ngày 11/01/2019.

Sau khi ly hôn chị Phạm Thị Thủy T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi 02 con chung là cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 11/05/2017 và cháu Nguyễn Bảo A1, sinh ngày 11/01/2019.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Phạm Thị Thủy T tự nuôi con chung và không yêu cầu anh Nguyễn Văn C cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nhà đất chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Chị T tự nguyện chịu án phí, lệ phí ly hôn theo quy định.

Tại Bản tự khai bị đơn anh Nguyễn Văn C trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn C và chị Phạm Thị Thủy T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, H, thành phố Hà Nội (nay là UBND phường B, thành phố Hà Nội) vào ngày 06/03/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên có khúc mắc không giải quyết được. Đến tháng 12/2023, anh Nguyễn Văn C bị bắt và bị Tòa án tuyên phạt 07 năm 06 tháng tù về tội danh “mua bán trái phép chất ma túy”. Hiện anh C đang chấp hành án phạt tù tại phân trại 2, Trại giam T1, tỉnh Thanh Hóa. Nay anh C xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị Phạm Thị Thủy T yêu cầu ly hôn anh C đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Chị Phạm Thị Thủy T và anh Nguyễn Văn C có 02 con chung là cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 11/05/2017 và cháu Nguyễn Bảo A1, sinh ngày 11/01/2019.

Ly hôn, anh C có nguyện vọng chị T sẽ là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung là cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 11/05/2017 và cháu Nguyễn Bảo A1, sinh ngày 11/01/2019.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do hiện nay anh C đang chấp hành bản án tù nên anh C không cấp dưỡng tiền nuôi 02 con chung cho chị T.

- Về tài sản chung và nhà đất chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí : Chị T nộp án phí theo quy định của pháp luật, anh C đồng ý.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi xét xử thấy rằng: Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định về nhiệm vụ quyền hạn của thẩm phán quy định tại Điều 48, Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách tố tụng của đương sự; tiến hành thu thập chứng cứ, tống đạt các thông báo và Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đương sự và Viện kiểm sát đúng thời hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định tại chương XIV về phiên tòa sơ thẩm của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

2. Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, đương sự đã thực hiện đúng các quy định tại điều 71, điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

3. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Thủy T. Cho chị Phạm Thị Thủy T được ly hôn anh Nguyễn Văn C.

2. Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 11/05/2017 và cháu Nguyễn Bảo A1, sinh ngày 11/01/2019 cho chị Phạm Thị Thủy T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Nguyễn Bảo A và cháu Nguyễn Bảo A1 trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.

Anh Nguyễn Văn C được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc cháu Nguyễn Bảo A và cháu Nguyễn Bảo A1 không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Phạm Thị Thủy T không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh C từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Nguyễn Bảo A và cháu Nguyễn Bảo A1 trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.

3. Về tài sản chung, nhà đất chung: Không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung: Không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về án phí: Đề nghị ghi nhận sự tự nguyện của chị T chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, sau phần hỏi và tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Thủy T thuộc những tranh chấp về Hôn nhân gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015. Tòa án nhân dân khu vực 3 – Hà Nội thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

Bị đơn anh Nguyễn Văn C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử tuy nhiên anh C đang chấp hành án tại trại giam T1, Thanh Hóa nên vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn C.

[2]. Về nội dung:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của đương sự và chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận thấy: Chị Phạm Thị Thủy T và anh Nguyễn Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố Hà Nội vào ngày 06/03/2017. Trong quá trình chung sống, vợ chồng có hạnh phúc thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp, vợ chồng không có tiếng nói chung, nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu bất đồng quan điểm sống, tính cách không phù hợp. Sau đó anh C bị bắt và chấp hành án phạt tù với mức án 07 năm 06 tháng tù tại phân trại 2, trại giam T, Thanh Hóa. Chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mong muốn Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn C. Anh Nguyễn Văn C có quan điểm đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử nhận thấy thời gian đi chấp hành án của anh C 07 năm 06 tháng là quá dài nên không đảm bảo hạnh phúc cho chị T, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Thủy T. Cho chị Phạm Thị Thủy T được ly hôn với anh Nguyễn Văn C.

2.2. Về con chung: Chị Phạm Thị Thủy T và anh Nguyễn Văn C có 02 con chung là cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 11/05/2017 và cháu Nguyễn Bảo A1, sinh ngày 11/01/2019.

Xét nguyện vọng xin nuôi con của chị T là chính đáng, hiện tại anh C đang chấp hành án phạt tù tại phân trại 2, Trại giam T1, tỉnh Thanh Hóa nên không có khả năng nuôi dưỡng con chung. Tại bản tự khai ngày 08/11/2025 anh C có nguyện vọng giao 02 con chung là cháu Nguyễn Bảo A và cháu Nguyễn Bảo A1 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Hội đồng xét xử thấy cần giao 02 con chung cho chị T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với điều kiện thực tế nên áp dụng khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 giao 02 con chung Nguyễn Bảo A, sinh ngày 11/05/2017 và cháu Nguyễn Bảo A1, sinh ngày 11/01/2019 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh C cho đến khi có sự thay đổi khác.

2.3. Về tài sản chung và nhà đất chung: Không có, không yêu cầu Tòa giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về các khoản nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

2.4. Về án phí: Chị Phạm Thị Thủy T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

2.5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án và khoản 1.1 mục II Danh mục mức án phí, lệ phí ban hành kèm theo nghị quyết:

Xử:

1. Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Thủy T. Cho chị Phạm Thị Thủy T được ly hôn anh Nguyễn Văn C.

2. Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 11/05/2017 và cháu Nguyễn Bảo A1, sinh ngày 11/01/2019 cho chị Phạm Thị Thủy T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Nguyễn Bảo A và cháu Nguyễn Bảo A1 trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.

Anh Nguyễn Văn C được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc cháu Nguyễn Bảo A và cháu Nguyễn Bảo A1 không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Phạm Thị Thủy T không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh C từ ngày án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Nguyễn Bảo A và cháu Nguyễn Bảo A1 trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.

3. Về tài sản chung, nhà đất chung: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết nên Tòa không xét.

4. Về nợ chung: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết nên Tòa không xét.

5. Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị Thủy T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị Phạm Thị Thủy T đã nộp 300.000 đồng tại Biên lai thu tiền số 0009926 ngày 02 tháng 10 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.

Chị Phạm Thị Thủy T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Nguyễn Văn C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND Khu vực 3-Hà Nội;
  • - Chi cục THADS thành phố Hà Nội;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 748/2025/HNGĐ-ST ngày 05/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về xin ly hôn

  • Số bản án: 748/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Thủy T. Cho chị Phạm Thị Thủy T được ly hôn anh Nguyễn Văn C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger