|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 748/2024/HS-PT Ngày 27 tháng 8 năm 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Phan Đức Phương.
Các Thẩm phán:Bà Lê Thị Tuyết Trinh.
Ông Mai Xuân Thành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lã Thị Thu Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 672/2024/TLPT-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo Lê Xuân T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Do có kháng cáo của bị cáo Lê Xuân T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 63/2024/HS-ST ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 767/2024/QĐ-PT ngày 12 tháng 8 năm 2024.
Bị cáo có kháng cáo: Lê Xuân T, sinh năm 2003 tại Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).
Hộ khẩu thường trú: G đường B, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; chỗ ở: 2 đường N, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Lê Xuân H, sinh năm 1979 và bà Bùi Thị L, sinh năm 1975; vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt ngày 27/9/2023.
Nhân thân: Ngày 09/12/2020, Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Bản án số 276/2020/HSST.
Người bào chữa cho bị cáo:
- Luật sư Đặng Thị H1-Công ty L3, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
- Luật sư Phạm Văn S-Công ty L4, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 27/9/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố V phối hợp cùng Công an phường T bắt quả tang Lê Xuân T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại căn nhà số B N, phường T, thành phố V. Vật chứng vật thu giữ gồm: 17 gói nylon hàn kín chứa chất rắn màu trắng (mẫu A1); 90 viên nén màu xám, hình chữ nhật (mẫu A2); 01 gói nylon hàn kín chứa chất bột màu xanh và 02 mẫu viên nén màu xanh (mẫu A3); 01 Điện thoại di động, hiệu Iphone, màu đỏ, số Imei 356112090296172; 01 cân tiểu ly; 100 túi nylon (bên trong không chứa gì).
Kết quả điều tra xác định: Do bản thân sử dụng ma túy nên Lê Xuân T nảy sinh ý định mua bán trái phép chất ma túy để kiếm lời. Thông qua mạng xã hội T1, T quen biết với người tên H2 (không rõ nhân thân lai lịch) và gọi điện qua Telegram, số điện thoại liên kết là 0566.353.xxx để trao đổi việc mua bán ma túy. H2 thỏa thuận gửi ma túy qua xe khách Toàn Thắng về bến xe tại địa chỉ D B, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về cho T cất giữ và bán cho khách, lợi nhuận sẽ chia theo ngày (trung bình tiền công từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng). Về giao dịch, thanh toán giữa T và H2 thông qua tài khoản ngân hàng theo số tài khoản 647243939 Ngân hàng M của Lê Xuân T và số tài 676704060072734 Ngân hàng Q (V), chủ tài khoản TRAN QUANG HUY.
Về cách thức mua bán ma túy được thực hiện như sau: H2 trực tiếp thỏa thuận với khách mua ma túy về số lượng, giá cả rồi nhắn tin cho T số điện thoại của khách, địa điểm giao nhận; loại ma túy; số lượng; số tiền thu của khách. Sau đó, T sẽ lấy ma túy (tùy theo đơn, nếu là ma túy khay thì cân số lượng theo yêu cầu của H2) rồi đi giao cho khách, khách trả tiền trực tiếp cho H2.
Quá trình điều tra, Lê Xuân T khai đã nhận ma túy từ đối tượng H2 03 lần, mỗi lần nhận cách nhau từ 5 ngày đến 10 ngày; lần cuối ngày 25/9/2023, T nhận 01 thùng xốp (bên trong chứa ma túy) tại bến xe T rồi đưa về địa chỉ 2 đường N, phường T, thành phố V (chỗ ở của bạn gái là Hoàng Ngọc Khánh L1) cất giấu nhưng không nói cho L1 biết. Sau đó, T đã giao (bán) ma túy cho H2 được 02 lần, cụ thể: Khoảng tối ngày 25/9/2023, bán 01 gói ma túy khay cho một người đàn ông (không rõ họ, địa chỉ) tại khu vực đường L, phường A, thành phố V và sáng ngày 26/9/2023, bán nửa hộp ma túy khay cho một người phụ nữ (không rõ họ, địa chỉ) tại khu vực đường L, phường C, thành phố V (thể hiện tại tin nhắn của H2 trên T). T chỉ đi giao ma túy theo yêu cầu của H2, tiền bán ma túy khách tự thanh toán với H2. Đối với số ma túy còn lại chưa kịp bán thì bị Cơ quan Công an thành phố V phát hiện bắt quả tang vào ngày 27/9/2023.
Tại bản Kết luận giám định số 414/KL- KTHS-MT, ngày 04/10/2023 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh B kết luận: Mẫu A1 có khối lượng 8,4454 gam, là ma túy, loại Ketamin; Mẫu A2 có khối lượng 40,4774 gam, là ma túy, loại MDMA; Mẫu A3 có khối lượng 0,2619 gam, là ma túy, loại MDMA”.
Các vấn đề có liên quan trong vụ án:
Đối tượng tên H2, sử dụng số điện thoại là 0566.353.xxx liên kết trên Telegram và sử dụng số tài khoản 676704060072734 Ngân hàng Thương mại cổ phần Q, chủ tài khoản tên Trần Quang H3), là người cung cấp ma túy cho T. Qua xác minh, Trần Quang H3 có đăng ký hộ khẩu tại địa chỉ E T, phường C, thành phố V nhưng thực tế không sinh sống tại địa phương, hiện đi đâu làm gì không rõ. Đối tượng sử dụng số thuê bao 0925420987 mua ma túy của H2 và T. Cơ quan điều tra có các yêu cầu Trung tâm V1 số 2357, 2358/YC ngày 12/10/2023 về việc cung cấp thông tin cá nhân; nhật ký cuộc gọi và tin nhắn để điều tra làm rõ nhưng đến nay chưa có kết quả.
Ngày 19/04/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC04) Công an tỉnh B đã ra Quyết định số 528/QĐ-CSMT tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án (hành vi của các đối tượng Trần Quang H3; H2 và các số thuê bao 0925420987, 0566353645, 0396758845) để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với Hoàng Ngọc Khánh L1 (bạn gái của T) và bà Nguyễn Thị Thúy L2 (mẹ của L1) là chủ căn nhà số B đường N, phường T, thành phố V. Qua làm việc, L1 và bà L2 khai không biết Lê Xuân T cất giấu ma túy trong nhà của mình; không biết T có hành vi mua bán ma túy. Như vậy lời khai trên phù hợp với lời khai của Lê Xuân T việc cất giấu ma túy tại căn nhà trên thì T không cho L1 và bà L2 biết. Do đó, Cơ quan điều tra xác định không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Hoàng Ngọc Khánh L1 và bà Nguyễn Thị Thúy L2 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 63/2024/HS-ST ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lê Xuân T 17 (mười bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/9/2023.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 04/7/2024, bị cáo Lê Xuân T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Xuân T giữ nguyên kháng cáo và trình bày:
Từ chối người bào chữa là Luật sư Phạm Văn S do gia đình bị cáo mời. Đồng ý Luật sư Đặng Thị H1 bào chữa theo chỉ định của Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
Xác định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng nhưng hình phạt 17 năm tù là quá nghiêm khắc nên bị cáo chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, với lý do: Bị cáo là con đầu trong gia đình, bị cáo không biết được hành vi của bị cáo lại bị xử phạt cao như vậy.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Hội đồng xét xử và bị cáo đã tuân thủ các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Đơn kháng cáo của bị cáo là hợp lệ. Việc bị cáo từ chối người bào chữa do gia đình bị cáo mời là tự nguyện, đúng pháp luật. Tòa án đã chỉ định người bào chữa cho bị cáo nên quyền được bào chữa của bị cáo được đảm bảo. Đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án
Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng pháp luật, không oan; hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Bị cáo kháng cáo nhưng không có tình tiết giảm nhẹ mới. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Xuân T trình bày:
Về tội danh, đồng ý với tội danh mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên. Trong việc phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo chỉ thực hiện hành vi giữ trái phép chất ma túy rồi theo lời H2 giao cho người khác mà không biết số ma túy là bao nhiêu, bị cáo chỉ nhận 2 lần số tiền bất chính, số tiền rất ít. Trình độ học vấn của bị cáo thấp (9/12) nên bị cáo chưa nhận thức được hành vi phạm tội mà mình gây ra.
Ngoài ra, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét một số tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, cụ thể: Áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự do bị cáo T thành khẩn khai báo, tích cực hợp tác với cơ quan điều tra. Về nhân thân, bị cáo T bị xử phạt án treo tại thời điểm chưa đủ năng lực hành vi dân sự, bị cáo là lao động chính trong gia đình, do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt bị truy tố để bị cáo sớm được trở về với gia đình.
Bị cáo Lê Xuân T trình bày: Bị cáo đồng ý nội dung bào chữa của Luật sư, đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bị cáo Lê Xuân T kháng cáo đúng quy định tại Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên vụ án được xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2] Tòa án cấp sơ thẩm xác định hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự là đúng pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T xác định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng nhưng hình phạt quá nghiêm khắc nên bị cáo chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
[4] Căn cứ các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, có cơ sở xác định:
Lê Xuân T là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy nên đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy để có tiền tiêu xài và ma túy sử dụng. Thông qua mạng xã hội T1, T đã thỏa thuận với người tên H2 (chưa rõ lai lịch) T sẽ đi giao (bán) ma túy để hưởng tiền công từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 9/2023 cho đến khi bị bắt, T nhận ma túy của H2 qua cách thức gửi xe khách Toàn Thắng, rồi mang về bán cho khách được 03 lần. 02 lần đầu T đã nhận ma túy từ H2 và bán cho 02 khách tại khu vực thành phố V. Lần thứ 3, vào ngày 25/9/2023 nhận 17 gói nylon hàn kín chứa chất rắn màu trắng (ma túy khay); 90 viên nén màu xám, hình chữ nhật 01 gói nylon hàn kín chứa chất bột màu xanh; 02 mẫu viên nén màu xanh (ma túy dạng thuốc lắc) đưa về chỗ ở cất giấu thì bị bắt quả tang.
Căn cứ kết quả giám định thì tổng khối lượng ma túy thu giữ trong vụ án là 40,4774 gam, loại MDMA và 8,4454 gam, loại Ketamin.
[5] Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sự quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì để có tiền tiêu xài mà cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
[6] Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan.
[7] Xét kháng cáo của bị cáo T, thấy rằng: Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đúng, đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 và xử phạt bị cáo 17 năm tù là có căn cứ.
[8] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cũng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nên hình phạt 17 (mười bảy) năm tù đối với bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
[9] Từ những nội dung nêu trên, Hội đồng xét xử thống nhất ý kiến của Viện kiểm sát; không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo T; giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[10] Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 355, Điều 345 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Xuân T.
2. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 63/2024/HS-ST ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
3. Tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
4. Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự,
4.1. Xử phạt: Lê Xuân T 17 (mười bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/9/2023.
4.2. Áp dụng khoản 1 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Xuân T để bảo đảm thi hành án.
5. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Lê Xuân T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
6. Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Đức Phương |
6
Bản án số 748/2024/HS-PT ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 748/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: giữ nguyên bản án sơ thẩm
