|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 748/2024/DS-PT
Ngày: 28/8/2024
V/v Tranh chấp quyền sở hữu nhà
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Hiền
Các Thẩm phán: Ông Trương Việt Hồng
Bà Võ Thị Kim Thương
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Nguyễn Phương Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Bạch Ngọc Hiếu – Kiểm sát viên.
Trong ngày 28/8/2024 tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã mở phiên tòa xét xử công khai đối với vụ án dân sự phúc thẩm đã thụ lý số 509/2024/TLPT-DS ngày 26/6/2024 về việc “Tranh chấp quyền sở hữu nhà”
Do bản án dân sự sơ thẩm số 732/2024/DS-ST ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3887/2024/QĐPT-DS ngày 16 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 12174/2024/QĐ-PT ngày 15 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH Một thành viên Dịch vụ Công ích quận B
Địa chỉ: A P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Hải N (có mặt) và bà Huỳnh Thị Phương T (có mặt).
Theo Giấy ủy quyền số 363/DVCI-QLN ngày 01/8/2024.
- Bị đơn:
1. Ông Nguyễn Văn M – sinh năm 1976 (có mặt)
2. Bà Nguyễn Thị T1 – sinh năm 1973 (có mặt)
Cùng địa chỉ: Căn hộ S, tầng 18 Block B chung cư 1050, số D P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị Tuyết T2 – sinh năm 2001 (vắng mặt)
2. Ông Nguyễn Mạnh Huy H – sinh năm 2002 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Căn hộ S, tầng 18 Block B chung cư 1050, số D P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Ủy ban nhân dân quận B (vắng mặt)
Địa chỉ: Số F P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Hồ Phương
Theo Giấy ủy quyền số 34/GUQ-UBND ngày 12/4/2024
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Đức H1, bà Phạm Thị Phương T4.
Do có kháng cáo của: Bị đơn ông Nguyễn Văn M.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Căn hộ số 16 tầng 18 Block B chung cư số 04 P (nối dài), Phường A, quận B (sau đây gọi tắt là B18-16) thuộc sở hữu nhà nước do Công ty TNHH Một Thành viên Dịch vụ Công ích quận B (sau đây gọi tắt là Công ty) thực hiện quản lý theo Quyết định số 6850/QĐ-UBND ngày 10/12/2015 của Ủy ban nhân dân Thành phố H về việc xác lập quyền sở hữu Nhà nước đối với căn hộ tại chung cư S đường P (nối dài), Phường A, quận B thuộc Dự án khu tái định cư, C và Trung tâm thể dục thể thao tại Phường A, quận B.
Ngày 05/02/2009, Ủy ban nhân dân quận B ban hành Quyết định số 1076/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với căn nhà không số (cạnh số 169/119) đường C, Phường A, quận B của ông Nguyễn Văn M.
Ngày 02/6/2009, Ủy ban nhân dân quận B ban hành Quyết định số 3474/QĐ-UBND về việc điều chỉnh Quyết định 1076/QĐ-UBND ngày 05/02/2009 của Ủy ban nhân dân quận B về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với căn nhà không số (cạnh số A) đường C, tổ E, Phường A, quận B của ông Nguyễn Văn M – bà Nguyễn Thị Tuyết .
Ngày 20/8/2014, Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng quận B có công văn số 409/BBTGPMB-TĐC đề nghị Công ty bàn giao 23 căn hộ tái định cư cho các hộ dân thuộc dự án Đầu tư xây dựng trường cán bộ thành phố, Khu công viên cây xanh và khu tái định cư P 12 trước khi Ủy ban nhân dân quận B ban hành Quyết định điều chỉnh về bồi thường hỗ trợ và tái định cư theo Thông báo số 254 TB-BBTGPMB-TĐC ngày 19/8/2014. Công ty đã bàn giao 23 căn hộ cho các hộ dân (trong đó có căn hộ B).
Ngày 30/5/2018, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có Bản án số 531/2018/DS-PT về việc tranh chấp quyền sỡ hữu tài sản giữa bà Nguyễn Thị Kim H2 và ông Nguyễn Văn M. Quyết định tại Bản án nêu: Ủy ban nhân dân quận ( Ban đền bù giải phóng mặt bằng quận B) có trách nhiệm lập hồ sơ bố trí tái định cư cho bà H2 suất tái định cư của vợ chồng ông M, bà T1 trong hồ sơ đền bù giải tỏa căn nhà không số cạnh nhà số A C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 28/8/2018, Ủy ban nhân dân quận B ban hành Thông báo số 877/TB-UBND-BTGPMB về việc thu hồi căn hộ tạm cư B18-16 đối với ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị Tuyết . Tuy nhiên ông M không đồng ý giao trả căn hộ.
Ngày 14/01/2019, Ủy ban nhân dân quận B ban hành Quyết định số 582/QĐ-UBND về việc điều chỉnh đối tượng được bố trí tái định cư và khoản 1.2 Điều 1 Quyết định 3474/QĐ-UBND ngày 02/6/2009 của Ủy ban nhân dân quận B:
+ Điều chỉnh đối tượng được bố trí căn hộ chung cư là bà Nguyễn Thị Kim H2 thay cho ông Nguyễn Văn M – bà Nguyễn Thị Tuyết .
+ Bà Nguyễn Thị Kim H2 được mua căn hộ A chung cư S P (nối dài), Phường A, quận B.
Ngày 13/3/2019, Công ty có Thông báo số 625/DVCI-QLN đề nghị ông Nguyễn Văn M – bà Nguyễn Thị T1 thực hiện bàn giao lại căn hộ tạm cư B18-16 trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày nhận được Thông báo (ông M có ký nhận Thông báo ngày 15/3/2019).
Ngày 09/7/2019, Công ty có biên bản làm việc đề nghị ông Nguyễn Văn M – bà Nguyễn Thị T1 thực hiện bàn giao lại căn hộ theo Thông báo số 625/DVCI-QLN ngày 13/3/2019. Ông M không đồng ý bàn giao căn hộ.
Ngày 07/7/2020, Công ty có Công văn số 1056/DVCI-QLN đề nghị Chi cục thi hành án dân sự quân Bình Thạnh có ý kiến về việc thực hiện Bản án số 531/2018/DS-PT ngày 30/5/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 04/8/2020, Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh có Công văn số 3473/CCTHADS với ý kiến: Việc thực hiện Bản án số 531/2018/DS-PT ngày 30/5/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Theo quy định tại Điều 20 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014 quy định: Chấp hành viên có trách nhiệm thi hành đúng nội dung bản án, quyết định của Tòa án. Tuy nhiên trong phần quyết định của bản án không có nội dung thu hồi căn hộ B18-16 đã bố trí tạm cư cho ông Nguyễn Văn M, Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh không có cơ sở tổ chức thi hành đối với nội dung trên.
Ngày 21/02/2022, Ủy ban nhân dân quận B có Thông báo kết luận trong buổi làm việc với các đơn vị liên quan đến các nội dung thuộc lĩnh vực đô thị. Trong đó có nội dung kết luận như sau: Liên quan đến căn hộ số 16 tầng 18 lô B chung cư số 04 P (nối dài), Phường A: Giao Công ty TNHH MTV Dịch vụ Công ích quận liên hệ Toà án nhân dân quận Bình Thạnh để làm rõ thủ tục tố tụng theo quy định.
Do đó, Công ty TNHH Một thành viên Dịch vụ Công ích quận B đề nghị Tòa án tuyên xử buộc ông Nguyễn Văn M – bà Nguyễn Thị T1 trả căn hộ số 16 tầng 18 Block B chung cư số 04 P (nối dài), Phường A, quận B thuộc sở hữu Nhà nước cho Công ty.
Theo bản tự khai ngày 10/10/2022, các biên bản làm việc tại Tòa án, bị đơn ông Nguyễn Văn M trình bày như sau:
Ông M đã nộp đơn kháng nghị giám đốc thẩm Bản án số 531/2018/DS-PT ngày 30/5/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đến Tòa án án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc “Tranh chấp quyền sở hữu tài sản” giữa bà Nguyễn Thị Kim H2, sinh năm 1972 và ông Nguyễn Văn M theo giấy biên nhận ngày 05/7/2018. Nhận thấy, đây là căn cứ để giải quyết vụ án tranh chấp quyền sở hữu nhà mà Công ty TNHH Một thành viên Dịch vụ Công ích quận B khởi kiện, do đó ông M đề nghị chờ kết quả giải quyết của Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đối với bản án nêu trên.
Theo bản trình bày ý kiến và vắng mặt ngày 09/9/2022, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Tuyết T2, ông Nguyễn Mạnh Huy H trình bày:
Hiện bà T2 và ông H đang cư trú tại căn hộ S, tầng 18 Block B chung cư 1050, số D P, Phường A, quận B, ông bà cho rằng đây là căn hộ của ba mẹ là ông M và bà Tuyết tôn T5 nên, đề nghị Tòa án xem xét tạo điều kiện cho ông bà có nơi ở ổn định để học tập, phát triển tương lai và đóng góp cho đất nước.
Theo bản tự khai đại diện Ủy ban nhân dân quận B trình bày:
Về nguồn gốc nhà đất: Nguồn gốc đất là do bà Trần Thị N1 tự khai phá đất nông nghiệp trước năm 1975. Năm 1998, ông Phạm Hữu H3 chuyển nhượng cho bà Kiều Thị T6.
Ngày 24/6/2001, bà Kiều Thị T6 chuyển nhượng đất cho ông Nguyễn Văn M bằng giấy tay với diện tích 48m².
Ngày 19/6/2001, Ủy ban nhân dân Phường A lập Biên bản về hành vi vi phạm hành chính đối với ông M (xây dựng nhà không phép trên mảnh đất nhận chuyển nhượng).
Về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư:
Nhà đất không số (cạnh số A) đường C, tổ E, Phường A, quận B thuộc diện giải tỏa toàn phần để thực hiện dự án đầu tư xây dựng Trường C, khu công viên cây xanh và khu tái định cư P, quận B.
Theo bản vẽ hiện trạng phục vụ công tác bồi thường của Công ty Đ ngày 23/12/2003, nhà đất nêu trên có diện tích khuôn viên 51,4m². Trong đó, phần diện tích 2,4 m² thuộc hẻm (theo Giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân Phường A ngày 17/7/2006) không được bồi thường, hỗ trợ. Phần diện tích nhà đất còn lại được bồi thường, hỗ trợ là: 49 m²
Ngày 05/02/2009, Ủy ban nhân dân B ban hành Quyết định số 1076/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với căn nhà không số (cạnh số A) đường C, tổ E, Phường A, quận B của ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị T1 với tổng số tiền là 502.549.854 đồng. Ngày 05/6/2009, ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị T1 đã nhận số tiền 166.520.454 đồng, số tiền (502.549.854 – 166.520.454) = 336.029.400 đồng được giữ lại để mua căn hộ chung cư (tái định cư tại chỗ).
Ngày 02/6/2009, Ủy ban nhân dân quận B ban hành Quyết định số 3474/QĐ-UBND ngày 02/6/2009 về việc điều chỉnh Quyết định số 1076/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với căn nhà không số (cạnh số A) đường C, tổ E, Phường A, quận B của ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị Tuyết . Theo đó, hộ ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị T1 được chọn mua một căn hộ chung cư tái định cư tại Phường A, quận B.
Ủy ban nhân dân quận B xác định đối tượng được bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với nhà đất nêu trên là ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị T1 là đúng quy định.
Từ ngày 15/6/2009 đến ngày 30/8/2014, ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị T1 được hỗ trợ tiền tạm cư theo quy định.
Ngày 03/9/2014, Công ty đã bàn giao cho ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị T1 căn hộ tạm cư số 16 tầng 18 lô B chung cư 04, Phan Chu T7 (nối dài), Phường A, quận B trong khi chờ tái định cư bằng căn hộ Lô A (đang xây dựng).
Căn cứ Bản án sơ thẩm số 114/2018/DS-ST ngày 16/01/2018 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh và Bản án phúc thẩm số 531/2018/DS-PT ngày 30/5/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp đòi quyền sở hữu tài sản có nội dung chấp thuận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim H2 về việc đòi quyền sở hữu tài sản đối với căn nhà không số (đã bị giải tỏa) cạnh số A đường C, tổ E, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh và yêu cầu Ủy ban nhân dân quận B có trách nhiệm lập hồ sơ bố trí tái định cư cho bà H2 trong suất tái định cư của vợ chồng ông M bà T1. Thi hành bản án phúc thẩm nêu trên, Ủy ban nhân dân quận B ban hành Thông báo số số 877/TB-UBND-BTGPMB ngày 28/8/2018 về việc thu hồi căn hộ số 16 tầng A Lô B P đã bố trí tạm cư cho ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị Tuyết .
Ngày 18/7/2018 và ngày 20/7/2018, Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng thuộc Ủy ban nhân dân quận B có biên bản làm việc đề nghị ông Nguyễn Văn M bàn giao lại căn hộ tạm cư số 16 tầng 18 lô B chung cư 04, Phan Chu T7 (nối dài), Phường A, quận B, nhưng ông Nguyễn Văn M không đồng ý thực hiện.
Ngày 14/01/2019, Ủy ban nhân dân quận B ban hành Quyết định số 582/QĐ-UBND ngày về việc điều chỉnh đối tượng được bố trí tái định cư và khoản 1.2 Điều 1 Quyết định số 3474/QĐ-UBND ngày 02/6/2009 của Ủy ban nhân dân quận B. Theo đó, điều chỉnh đối tượng được bố trí căn hộ chung cư là bà Nguyễn Thị Kim H2 thay cho ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị T1, bà Nguyễn Thị Kim H2 được mua căn hộ A chung cư S P (nối dài), Phường A, quận B.
Căn cứ khoản 1 Điều 580 Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định: “Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản mà không có căn cứ pháp luật phải hoàn trả toàn bộ tài sản đã thu được”. Trường hợp của ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị T1 không còn là đối tượng được nhận căn hộ bố trí tái định cư theo Bản án phúc thẩm số 531/2018/DS-PT ngày 30/5/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Quyết định số 582/QĐ-UBND ngày 14/01/2019 của Ủy ban nhân dân quận B. Do vậy, ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị T1 có trách nhiệm phải bàn giao lại căn hộ tạm cư số 16 tầng 18 lô B chung cư 04, Phan Chu T7 (nối dài), Phường A, quận B.
Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Một thành viên Dịch vụ Công ích quận B buộc ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị T1 phải bàn giao lại căn hộ tạm cư số 16 tầng 18 lô B chung cư 04, Phan Chu T7 (nối dài), Phường A, quận B cho Công ty theo quy định.
* Tại bản án số 732/2024/DS-ST ngày 02 tháng 5 năm 2024của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử:
Căn cứ Điều 21, khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 146, Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 278 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 8, Điều 163, Điều 164, Điều 165, Điều 166, Điều 580 của Bộ Luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật thi hành án dân sự.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH Một thành viên Dịch vụ Công ích quận B: Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị T1, những người đang cư trú trong căn hộ phải trả lại căn hộ số A tầng A Block B P (nối dài), Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cho Công ty TNHH Một thành viên Dịch vụ Công ích quận B ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
H4 lại cho Công ty TNHH Một thành viên Dịch vụ Công ích quận B số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0049658 ngày 09/5/2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo và thi hành án của các đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Bị đơn ông Nguyễn Văn M có Đơn kháng cáo ngày 07/5/2024, kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị đơn là người kháng cáo ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị T1 cùng thống nhất:
Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm do Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét các tình tiết nguồn gốc căn nhà và ông M đã có đơn xin xem xét giám đốc thẩm bản án số 531/2018/DS-PT ngày 30/5/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhưng đến nay Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh chưa có văn bản trả lời.
- Nguyên đơn Công ty TNHH Một thành viên Dịch vụ Công ích quận B do người đại diện theo ủy quyền ông Lê Hải N và bà Huỳnh Thị Phương T cùng thống nhất trình bày:
Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
Những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm đã tuân thủ theo các quy định của pháp luật.
Về hình thức đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn M trong hạn luật định nên hợp lệ.
Về nội dung vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên toàn bộ bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị đơn ông ông Nguyễn Văn M trong hạn luật định, nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo quy định nên hợp lệ, được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về tố tụng: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Tuyết T2, ông Nguyễn Mạnh Huy H, người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân quận B vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa phúc thẩm, không rõ lý do, dù được Tòa án triệu tập hợp lệ, căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự trên.
[3] Về nội dung:
Xét thấy, căn hộ S tầng A Block B chung cư số 04 P (nối dài), Phường A, quận B thuộc sở hữu nhà nước theo Quyết định số 6850/QĐ-UBND ngày 10/12/2015 của Ủy ban nhân dân Thành phố H về xác lập quyền sở hữu nhà nước đối với căn hộ tại chung cư S đường P (nối dài), Phường A, quận B thuộc Dự án khu tái định cư, C và Trung tâm thể dục thể thao tại Phường A, quận B do Ủy ban nhân dân Thành phố H đại diện chủ sở hữu. Ủy ban nhân dân Thành phố H giao cho Công ty thực hiện quản lý, bố trí quỹ nhà tái định cư.
Căn cứ theo Quyết định số 1076/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân quận B, ngày 05/02/2009 về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với căn nhà không số (cạnh số 169/119) đường C, Phường A, quận B của ông Nguyễn Văn M; Quyết định số 3474/QĐ-UBND ngày 02/6/2009 về việc điều chỉnh Quyết định 1076/QĐ-BND; Công văn số 409/BBTGPMB-TĐC của Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng quận B ngày 20/8/2014, Công ty đã bàn giao căn hộ số 16 tầng 18 cho ông Nguyễn Văn M ngày 03/9/2014 theo biên bản bàn giao cùng ngày.
Căn cứ Bản án số 531/2018/DS-PT ngày 30/5/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc tranh chấp quyền sở hữu tài sản giữa bà Nguyễn Thị Kim H2 và ông Nguyễn Văn M đã tuyên xử: Chấp nhân yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim H2 về việc đòi quyền sở hữu tài sản đồi với căn nhà không số (đã bị giải tỏa) cạnh nhà số A C, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Ủy ban nhân dân quận B có trách nhiệm lập hồ sơ bố trí tái định cư cho bà H2 suất tái định cư của vợ chồng ông M, bà T1 trong hồ sơ đền bù giải tỏa căn nhà không số cạnh nhà số A C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Căn cứ Quyết định 582/QĐ-UBND ngày 14/01/2019 của Ủy ban nhân dân quận B về việc điều đối tượng được bố trí tái định cư và khoản 1.2 Điều 1 Quyết định số 3474/QĐ-UBND ngày 02/6/2009 của Ủy ban nhân dân quận B xác định đối tượng được bố trí căn hộ chung cư là bà Nguyễn Thị Kim H2 thay cho ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị Tuyết .
Nguyên đơn đã thông báo và làm việc với bị đơn về việc bàn giao lại căn hộ theo Thông báo 625/DVCI-QLN ngày 13/3/2019, ông M ký nhận thông báo ngày 15/3/2019.
Hộ gia đình bị đơn đang cư trú tại căn hộ S tầng A Block B P (nối dài), Phường A, quận B là tài sản thuộc sở hữu nhà nước do Công ty quản lý. Như vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả căn hộ số A tầng A Block B chung cư số 04 P (nối dài), Phường A, quận B là có căn cứ.
Bị đơn cho rằng đã nộp đơn kháng nghị giám đốc thẩm Bản án số 531/2018/DS-PT ngày 30/5/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đến Tòa án án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy biên nhận ngày 05/7/2018, đề nghị Tòa án chờ kết quả giải quyết của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đối với bản án nêu trên. Ngoài biên nhận ngày 05/7/2018 ông M không nộp văn bản phúc đáp của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án do đó lời trình bày của bị đơn không có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có căn cứ không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các đương sự khác trong vụ án không kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không kháng nghị, do đó căn cứ quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 732/2024/DS-ST ngày 02 tháng 5 năm 2024của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh không bị kháng cáo, kháng nghị nên vẫn giữ nguyên.
[4] Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định của pháp luật, bị đơn phải chịu án phí đối với phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.
Án phí dân sự phúc thẩm: Theo quy định của pháp luật, do giữ nguyên bản án sơ thẩm nên người kháng cáo phải chịu án phí.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ Điều 26, Điều 147, Điều 148, Điều 293; Điều 296; Điều 306, khoản 1 Điều 308, Điều 313, Điều 315 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 8, Điều 163, Điều 164, Điều 165, Điều 166, Điều 580 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.
Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn M trong hạn luật định được chấp nhận.
Về nội dung: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn M. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 732/2024/DS-ST ngày 02 tháng 5 năm 2024của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH Một thành viên Dịch vụ Công ích quận B: Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị T1, những người đang cư trú trong căn hộ phải trả lại căn hộ số A tầng A Block B P (nối dài), Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cho Công ty TNHH Một thành viên Dịch vụ Công ích quận B ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
H4 lại cho Công ty TNHH Một thành viên Dịch vụ Công ích quận B số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0049658 ngày 09/5/2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn M phải nộp là 300.000 đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã tạm nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0023784 ngày 14/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Văn M đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Các đương sự thi hành tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Văn Hiền |
Bản án số 748/2024/DS-PT ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sở hữu nhà
- Số bản án: 748/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sở hữu nhà
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sở hữu nhà
