|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 747/2024/HS-PT Ngày 27/8/2024 |
---------- |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Tuấn Vinh;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Khương;
Ông Phan Nhựt Bình.
- Thư ký phiên tòa: Ông Thân Văn Nhường, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 501/2024/TLPT-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Phan Văn Đ, do có kháng cáo của bị cáo và người giám hộ của người đại diện hợp pháp của bị hại đối với bản án Hình sự sơ thẩm số 22/2024/HS-ST ngày 11/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Bị cáo có kháng cáo:
Phan Văn Đ, sinh ngày 19/9/1976, tại A, An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: khóm A, thị trấn A, huyện A, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Phan Văn V và bà Nguyễn Thị X; vợ: Võ Thị Thùy L và có 02 con; tiền án: Tại Bản án Hình sự phúc thẩm số 49/2007/HSPT ngày 29/5/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang tuyên phạt 02 năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999. Đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa chấp hành xong phần trách nhiệm bồi thường dân sự; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/12/2023 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh A (Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Dương Thị Đạt T – Đoàn Luật sư tỉnh A.
Địa chỉ: Công ty L2 - Địa chỉ: 1 P, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (Có mặt).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: cháu Phan Thị Bé H, sinh ngày 06/8/2016; người giám hộ cho cháu H là bà Phan Thị Bé H1, sinh năm 1979; đều trú tại: khóm A, thị trấn A, huyện A, tỉnh An Giang (bà H1 là mẹ của cháu H). (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 09/12/2023, Phan Văn Đ cùng Trần Văn T1 (em rể của Đ) đến nhà ông Phan Văn S (chú ruột Đa) ăn giỗ. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, ông S tổ chức hát karaoke tại nhà, Đ hát cùng người phụ nũ bán vé số kiến thiết còn T1 không hát mà đi về nhà. Một lúc sau, Võ Thị Thùy L (vợ của Đ) đến nhà ông S chửi mắng Đ, nên Đ bỏ đi về nhà. Về đến nhà, Đ thấy T1 đang nói chuyện với ông Phan Văn V (cha ruột của Đ), cho rằng T1 nói cho vợ Đ biết việc Đ ca hát với người phụ nữ khác nên Đ tức giận, dùng tay đánh vào đầu của T1 02 cái từ phía sau thì được Phan Đăng K và Lê Văn L1 can ngăn nên T1 bỏ về nhà. Sau đó, T1 quay lại, Đ vào nhà lấy khúc gỗ tròn dài khoảng 1,5m, đường kính khoảng 3,2cm ra đứng đối diện T1, T1 giơ tay chỉ về phía Đa và chửi, Đ cầm khúc gỗ bằng hai tay đánh 01 cái từ phải qua trái trúng vào hông bên trái T1, Đ tiếp tục đánh 01 cái trúng vào bả vai trái T1 làm khúc gỗ gãy làm hai đoạn. Đa tiếp tục dùng tay đánh vào đầu T1 01 cái, được mọi người can ngăn, T1 bỏ đi về nhà. Khoảng 10 phút sau, vợ của T1 là Phan Thị Bé H1 (em ruột Đ) báo cho Đ biết T1 đã bất tỉnh thì Đ cùng Phan Văn D đưa T1 đến Bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh An Giang (tại thành phố C) cấp cứu nhưng T1 đã chết trước khi vào Bệnh viện.
Sáng ngày 10/12/2023, Đ đến Công an huyện A đầu thú.
Bản Kết luận giám định pháp y tử thi số 362/23/KLGĐTT-TTPY ngày 10/12/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh A, kết luận nguyên nhân chết của Trần Văn T1, sinh năm 1982:
1. Các kết quả chính:
- - Bầm máu vùng lưng trái, kích thước (11 x 2,2)cm; nằm ngang giữa lưng trái, cách dưới sau hõm nách trái 16cm và cách đường giữa lưng 08cm.
- - Bầm tụ máu dưới da vùng lưng trái tương ứng tổn thương bên ngoài.
- - Gãy xương sườn số XII bên trái.
- - Ô bụng đầy máu loãng khoảng 3000ml.
- - Dập vỡ lách phức tạp.
2. Kết luận:
- - Nguyên nhân chết: Sốc mất máu cấp do vỡ lách phức tạp.
- - Tổn thương trên cơ thể của nạn nhân có đặc điểm phù hợp với đặc điểm tổn thương do vật tày tạo nên.
Kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, bản ảnh khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.
Tại Cáo trạng số: 31/CT-VKS-P2 ngày 11/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đã truy tố Phan Văn Đ về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.
Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 22/2024/HS-ST ngày 11/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Phan Văn Đ phạm tội “Giết người”.
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 39 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phan Văn Đ: Tù chung thân.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 11/4/2024, người giám hộ cho người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Phan Văn Đ.
Ngày 15/4/2024, bị cáo Phan Văn Đ có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo làm trong hạn luật định và hợp lệ, Hội đồng xét xử, bị cáo đã tuân thủ đầy đủ quy định của Bộ luật Tố Tụng Hình sự.
Về nội dung kháng cáo:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận tội danh, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt, xét bị cáo chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt, bị cáo đã có hành vi dùng hung khí liên tục ấn công vào vùng trọng yếu của người bị hại, đủ cơ sở xác định bị cáo phạm tội giết người có tính côn đồ, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm n, Khoản 1, Điều 123 Bộ luật hình sự, cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo và đưa ra mức hình phạt phù hợp tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, tại cấp phúc thẩm, mặc dù bị cáo có bồi thường thêm cho gia đình người bị hại một số tiền, tuy nhiên với hành vi phạm tội của bị cáo, mức hình phạt tù chung thân là phù hợp, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.
- Bị cáo cùng luật sư trình bày:
Bị cáo phạm tội trong tình trạng có uống rượu bị và có sự hiểu lầm. Sau khi phạm tội bị cáo đã đưa bị hại đi cấp cứu và ra đầu thú, đã bồi thường thiệt hại. Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, người bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo, gia đình bị cáo có công với nước, giai đoạn phúc thẩm, gia đình bị cáo tự nguyện bồi thường thêm 30.000.000đ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng :
Đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Văn Đ1 và người giám hộ cho người bị hại là bà Phan Thị Bé H1 làm trong hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo:
Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 14 giờ 30 ngày 09/12/2023, tại khóm A, thị trấn A, huyện A, tỉnh An Giang, bị cáo Phan Văn Đ đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm là khúc gỗ đánh vào vùng vai và vùng hông trái, đồng thời sử dụng tay đánh vào đầu, hậu quả làm Trần Văn T1 bị chết do sốc mất máu cấp do vỡ lách phức tạp.
Hành vi nêu trên của bị cáo Phan Văn Đ đã phạm tội “Giết người”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Trong vụ án này, chỉ vì nghi ngờ không có căn cứ dẫn đến mâu thuẫn nhỏ nhặt với bị hại mà bị cáo Đ đã có hành vi dùng khúc cây gỗ đánh mạnh vào vùng hông trái, vai trái của bị hại Trần Văn T1 làm gãy xương sườn số XII, dập vỡ lách phức tạp dẫn đến nạn nhân bị chết vì sốc mất máu cấp do vỡ lách phức tạp, do đó hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp “Có tính chất côn đồ”, theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng của con người; đến quyền tự do thân thể của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Trong vụ án này, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý; chỉ vì một mâu thuẩn nhỏ với bị hại nhưng bị cáo đã dùng khúc gỗ tròn dài, cứng được xem là hung khí nguy hiểm đánh chí mạng vào vùng hông trái của bị hại gây gãy xương sườn số 12 bên trái, vỡ dập lách phức tạp, gây sốc mất máu cấp dẫn đến tính mạng của bị hại bị tước đoạt; tội phạm được thực hiện một cách quyết liệt, thể hiện tính côn đồ hung hãn đối với chính người thân của mình. Xét về nhân thân, bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm ngày 29/5/2007, tuyên phạt 02 năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999, mặc dù đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa chấp hành xong phần trách nhiệm bồi thường dân sự nên chưa được xóa án tích, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy dịnh tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; ngoài lần bị kết án trên, bị cáo còn bị Công an thị xã T, tỉnh Bình Dương xử phạt hình chính 2.500.000 đồng về hành vi “Đánh nhau gây mất an ninh trật tự” vào ngày 10/7/2014 điều này chứng tỏ bị cáo là người có bản chất hung hãn, côn đồ, xem thường pháp luật, xem thường tính mạng của người khác.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi được gia đình bị hại báo tình trạng sức khỏe của nạn nhân thì bị cáo đã tích cực đưa nạn nhân đi cấp cứu tại Bệnh viện; sau khi nạn nhân qua đời bị cáo tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại chi phí mai táng đồng thời tại phiên tòa gia đình bị cáo đã thực hiện xong việc bồi thường; Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; bị cáo xuất thân từ gia đình có công với Tổ quốc, ông nội bị cáo được tặng thưởng huân chương kháng chiến; tại phiên tòa giữa bị cáo với gia đình bị hại đã thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại; đồng thời đại diện bị hại cũng đề nghị giảm án cho bị cáo.
Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét thấy: Mặc dù bị cáo đã bồi thường xong chi phí mai táng; tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đại diện gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được áp dụng 02 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 và 01 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nhưng bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Hậu quả do tội phạm gây ra là đặc biệt nghiêm trọng không thể khắc phục được cho phía gia đình nạn nhân, gây tâm lý hoang mang, căm phẫn trong xã hội. Do đó cần áp dụng hình phạt tù không thời hạn đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe phòng ngừa.
Hội đồng xét xử xét thấy cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ và áp dụng hình phạt tù chung thân đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Mặc dù tại giai đoạn phúc thẩm gia đình bị cáo tự nguyện bồi thường thêm 30.000.000đ cho phía người bị hại, tuy nhiên xét thấy mức hình phạt tù chung thân đối với bị cáo là phù hợp do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ của bị cáo và người đại diện hợp pháp của người bị hại, giữ nguyên án sơ thẩm.
Do không được chấp nhận kháng cáo, bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Văn Đ và người giám hộ cho người bị hại - bà Phan Thị Bé H1; giữ nguyên bản án Hình sự sơ thẩm số 22/2024/HS-ST ngày 11/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
Tuyên bố bị cáo Phan Văn Đ phạm tội “Giết người”.
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 39 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phan Văn Đ: Tù chung thân.
Bị cáo Phan Văn Đ phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Dương Tuấn Vinh |
Bản án số 747/2024/HS-PT ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm về tội giết người
- Số bản án: 747/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Giết người
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
