|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 747/2024/HS-PT Ngày 16 tháng 9 năm 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Anh Thắng;
Các Thẩm phán: Ông Phùng Hải Hiệp;
Ông Nguyễn Nam Thành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Hương Thùy, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 902/2024/TLPT-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024, do có kháng cáo của bị cáo Trần Hà M đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 349/2024/HS-ST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
*Bị cáo có kháng cáo:
Trần Hà M, sinh ngày 08/3/1996 tại Quảng Ninh; số VNelD: 0221960003xx; giới tính: Nữ; đăng ký thường trú: số I phố Q, thuộc tổ dân phố A, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nơi đã từng cư trú: Tầng A, tòa S106, khu đô thị O, xã Đ, huyện G, Thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông Trần Quốc H và bà Bùi Thị H1; tình trạng hôn nhân: Có chồng là Vũ Khắc K và 03 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh ngày 09/3/2022; tiền án, tiền sự: Chưa; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/9/2023 đến ngày 22/9/2023; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, trong vụ án còn bị cáo Trần Thị N, bị cáo Nguyễn Tấn H2, các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Thông qua các tài khoản Facebook được đối tượng S (là người Việt Nam, sinh sống tại Campuchia, chưa rõ nhân thân, lai lịch) cung cấp và quản lý, Nguyễn Tấn H2, Trần Thị N và Trần Hà M đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các bị hại thông qua hình thức giả mạo là đại lý nhận đặt phòng khách sạn, vé máy bay tại các khu du lịch, khu nghỉ dưỡng tại các địa bàn Thành phố Hà Nội, tỉnh Vĩnh Phúc, tỉnh Hưng Yên, tỉnh Bình Định, thành phố Đà Nẵng, tỉnh Hà Nam... Cụ thể như sau:
Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Trần Hà M: Do có quan hệ quen biết nên khoảng tháng 7/2023, Trần Thị N kể với Trần Hà M về việc đang cùng với đối tượng S thực hiện hành vi lừa đảo và giới thiệu cho Hà M liên hệ với S để được hướng dẫn. Hà M đồng ý tham gia, thoả thuận hưởng lợi với thủ đoạn lừa đảo tương tự như Trần Thị N, Hà M sử dụng tài khoản Facebook tên “Vo Thi H3” và tài khoản số 0091111802222 mang tên Võ Thị H4 tại MB đều do S cung cấp để trao đổi thoả thuận với các khách hàng về việc đặt phòng khách sạn, vé máy bay giá rẻ. Bằng thủ đoạn trên, từ tháng 07/2023 đến tháng 09/2023, Hà M đã lừa đảo chiếm đoạt được tổng số 29.350.000 đồng của 03 bị hại, gồm: (1)Chiếm đoạt của chị Ngọc Thị L 16.150.000 đồng; (2)Chiếm đoạt của chị Đoàn Thị Anh T 6.500.000 đồng; (3)Chiếm đoạt của anh Nguyễn Đức H5 6.700.000 đồng.
Toàn bộ số tiền trên được chuyển đến các tài khoản ngân hàng do S quản lý. Sau đó, S đã chuyển lại cho Hà M 22.012.500 đồng. Tại Cơ quan điều tra, Trần Hà M khai nhận còn chiếm đoạt được 21.900.000 đồng của các bị hại Phạm Như Q, Phạm Hồng N1 và Vũ Thị H6 (Đều chưa xác định được nhân thân). Cơ quan điều tra đã đề nghị các Ngân hàng V, V1 cung cấp thông tin về các tài khoản: Tài khoản số [...] mang tên PHAM THI NHU QUYNH và tài khoản số [...] mang tên VU THI HIEN đều tại V; tài khoản số 0865562784 mang tên NGUYEN QUANG HUY tại V1 nhưng chưa có kết quả trả lời. Do đó, Cơ quan điều tra đã quyết định tách tài liệu liên quan đến việc Trần Hà M nhận tiền của các khách hàng chưa xác định được nhân thân để điều tra, xử lý sau. Cơ quan điều tra đã thu giữ của H 01 chiếc điện thoại di động iPhone và các trang tài liệu sao lưu từ phần mềm trên điện thoại đi động của Hà M có nội dung trao đổi với các đối tượng việc lừa đảo và trao đổi, dụ dỗ bị hại chuyển tiền.
Các bị hại chị Ngọc Thị L, chị Đoàn Thị Anh T và anh Nguyễn Đức H5 yêu cầu Trần Hà M phải bồi thường số tiền đã chiếm đoạt là 29.350.000 đồng và đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật; bị cáo Hà M chưa bồi thường cho các bị hại.
Đối với đối tượng tên Sam: Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Trần Thị N, Nguyễn Tấn H2 và Trần Hà M đều khai chỉ liên hệ với S qua ứng dụng Telegram, không biết thông tin về nhân thân, số điện thoại, chưa từng gặp mặt nên không thể nhận dạng nên Cơ quan điều tra đã quyết định tách tài liệu liên quan đến hành vi của đối tượng S để điều tra, xử lý sau. Đối với 07 tài khoản ngân hàng mà các bị hại đã chuyển tiền vào cho Trần Thị N, Nguyễn Tấn H2 và Trần Hà M: Cơ quan điều tra đã xác minh các thông tin chủ tài khoản do ngân hàng cung cấp nhưng không xác định được nên tách hành vi của chủ các tài khoản nêu trên để điều tra, xử lý sau. Quá trình điều tra vụ án, Nguyễn Tấn H2 khai đã sử dụng một phần tiền lừa đảo nhận được từ đối tượng Sam để đánh bạc trên trang Web nhưng không nhớ thời gian, trang Web và số tiền đánh bạc từng lần nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý Tấn H2 về hành vi đánh bạc.
Cáo trạng số 114/CT-VKSHN-P2 ngày 19/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Trần Hà Mi về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 349/2024/HS-ST ngày 25/6/2024, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Hà M phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- - Về điều khoản áp dụng và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 174; Điều 17; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Hà M 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đầu thi hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ (Từ ngày 17/9/2023 đến ngày 22/9/2023).
- - Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo Trần Hà M đã bồi thường cho chị Đoàn Thị Anh T 6.500.000 đồng, bồi thường cho anh Nguyễn Đức H5 6.700.000 đồng; Trần Hà M còn phải bồi thường cho chị Ngọc Thị L 16.150.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo Trần Thị N, Nguyễn Tấn H2, về trách nhiệm dân sự của các bị cáo, xử lý vật chứng, về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 02/7/2024 bị cáo Trần Hà M có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Hà M thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã mô tả, đồng thời xác định việc Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã bồi thường hết cho bị hại là chị Ngọc Thị L, hiện bị cáo đang phải nuôi 03 con nhỏ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án: Quyết định của Bản án sơ thẩm đối với bị cáo là phù hợp, đúng người, đúng tội. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã khắc phục toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt cho bị hại là chị Ngọc Thị L. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, đã khắc phục hết số tiền chiếm đoạt cho các bị hại. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo từ 03 đến 06 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Kháng cáo của bị cáo Trần Hà M trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Hà M tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với chính lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác trong vụ án, lời khai của người làm chứng, vật chứng được thu giữ, cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng tháng 01/2023, thông qua mạng xã hội, Nguyễn Tấn H2 quen và được đối tượng tên S hướng dẫn cách thức lừa đảo chiếm đoạt tiền của những người bị hại trên mạng xã hội; đến khoảng tháng 4/2023, Nguyễn Tấn H2 giới thiệu đối tượng S cho Trần Thị N; và đến khoảng tháng 7/2023, Trần Thị Ngọc 1 giới thiệu đối tượng S cho Trần Hà M. Đối tượng tên S đã cung cấp các tài khoản mạng xã hội, tài khoản ngân hàng và hướng dẫn cách thức để Nguyễn Tấn H2, Trần Thị N và Trần Hà M lừa đảo chiếm đoạt tài sản của những bị hại thông qua hình thức giả mạo đại lý nhận đặt tour du lịch, gồm đặt vé máy bay và phòng khách sạn tại các khu du lịch, nghỉ dưỡng. Sau khi các bị hại liên hệ để đặt phòng khách sạn hoặc vé máy bay, các bị cáo đã quảng bá, tư vấn cho họ; các bị cáo đã đặt vé hoặc đặt phòng khách sạn (Giữ chỗ, chưa thanh toán) trên các Web của các Công ty du lịch hoặc Hãng hàng không rồi gửi mã Code cho bị hại làm tin để bị hại chuyển tiền, gửi ảnh chụp giao dịch chuyển tiền. Khi các bị hại chuyển tiền thì các bị cáo chặn liên lạc, chiếm đoạt tiền của họ. Bằng thủ đoạn nêu trên, Trần Hà M đã chiếm đoạt của 03 bị hại với tổng số tiền 29.350.000 đồng.
Với hành vi nêu trên, các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử Trần Hà M về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Trần Hà M, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội; gây ảnh hưởng đến uy tín của các cơ quan, tổ chức liên quan; bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật nhưng vẫn nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội, gây bức xúc xã hội.
Trong vụ án này, theo các bị cáo khai thì đối tượng S là người chủ mưu, cầm đầu, khởi xướng, chỉ đạo, lôi kéo các bị cáo thực hiện tội phạm, hưởng lợi ¼ số tiền chiếm đoạt được. Bị cáo Trần Hà M là đồng phạm với đối tượng S, vai trò là người thực hành, giúp sức tích cực với tính chất, mức độ hành vi khác nhau trong việc chiếm đoạt tiền của các bị hại. Trong đó, bị cáo Trần Hà M phạm tội 03 lần, chiếm đoạt tổng số tiền 29.350.000 đồng, hưởng lợi 22.012.500 đồng. Hành vi của bị cáo Trần Hà M thuộc trường hợp tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân, tính đến thời điểm phạm tội, Trần Hà M chưa có tiền án, tiền sự; khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, về cơ bản bị cáo đã khai báo thành khẩn; ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội phần nào do hoàn cảnh khó khăn; bị cáo Trần Hà M đã bồi thường, khắc phục cho 02 bị hại; đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trên cơ sở đó, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định xử phạt bị cáo 15 (mười lăm) tháng tù là phù hợp.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo M xuất trình thêm được tài liệu là chứng từ giao dịch tại Ngân hàng V2 thể hiện bị cáo đã chuyển số tiền là 16.150.000 đồng cho bị hại là chị Ngọc Thị L theo số tài khoản ngân hàng của chị L có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo M cam kết đã khắc phục cho chị L và chị L đã nhận được số tiền 16.150.000 đồng, như vậy đây được coi là tình tiết giảm nhẹ mới cho bị cáo. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo, hoàn cảnh bị cáo đang phải nuôi 03 con nhỏ, sau khi phạm tội bị cáo đã thể hiện thái độ ăn năn hối cải, khắc phục bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt được cho các bị hại thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo, đồng thời trên nguyên tắc xử lý khoan hồng, nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội, tạo điều kiện, cơ hội cho người phạm tội được cải tạo, sửa chữa lỗi lầm, sớm được trở lại với đời sống xã hội để trở thành công dân tốt. Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo M về việc sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Trần Hà M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên, căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
QUYẾT ĐỊNH:
- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Hà M; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 349/2024/HS-ST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về phần hình phạt đối với bị cáo Trần Hà M, cụ thể như sau:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Hà M phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- - Về điều khoản áp dụng và hình phạt:
- Áp dụng khoản 1 Điều 174; Điều 17; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Hà M 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đầu thi hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ (Từ ngày 17/9/2023 đến ngày 22/9/2023).
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo Trần Hà M đã bồi thường cho chị Đoàn Thị Anh T 6.500.000 đồng, bồi thường cho anh Nguyễn Đức H5 6.700.000 đồng; bồi thường cho chị Ngọc Thị L 16.150.000 đồng.
- Về án phí: Bị cáo Trần Hà M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Anh Thắng |
6
Bản án số 747/2024/HS-PT ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 747/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo
