Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 746/2024/HS-PT

Ngày 27/8/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Tuấn Vinh;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Khương;

Ông Phan Nhựt Bình.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thân Văn Nhường, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 317/2024/TLPT-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Bùi Thiện T, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án Hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 15/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Bị cáo có kháng cáo:

Bùi Thiện T, sinh ngày 25/11/1962 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Tổ F, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Hữu L và bà Võ Thị H; vợ là Nguyễn Thị T1 và có 02 người con; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại; (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 20/01/2018, Toà án nhân dân tỉnh An Giang phân công Thẩm phán Cao Minh L1 thụ lý, giải quyết vụ án dân sự "Tranh chấp quyền sử dụng đất" giữa nguyên đơn ông Bùi Văn H1, bà Bùi Thị H2 với bị đơn Bùi Thiện T. Ngày 27/12/2018, Toà án nhân dân tỉnh An Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự với nội dung: “...Ông Bùi Văn H1, bà Bùi Thị H2 (R) đồng ý giao cho ông Bùi Thiện T số tiền 500.000.000 đồng".

Ông Bùi Thiện T đồng ý tháo dở căn nhà diện tích 57,4m² (tại các điểm 23, 24, 25, 27, 28, 34, 33, 32, 31, 30, 29) và các vật kiến trúc khác có trên đất để trả lại diện tích đất hiện đang sử dụng cho ông Bùi Văn H1, bà Lư Thị D, bà Bùi Thị H2 (R).

Ông Bùi Thiện T trả lại căn nhà của bà Võ Thị H tổng diện tích 126,94m² cho ông Bùi Văn H1, bà Lư Thị D (tại các điểm: 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26). Kết cấu xây dựng: khung cột bê tông cốt thép, vách gạch, mái tole, nền gạch men, 01 lầu văn: 63,47m² (diện tích đo đạc thực tế 67,7m²) và mái che, kết cấu khung cốt sắt, ống tiền chế, không vách, mái tole, nền lót xi măng.

Ông Bùi Văn H1, bà Lư Thị D được tiếp tục sử dụng đất diện tích 1.089m², có lối đi chung đúng theo bản đồ hiện trạng ngày 24/7/2018 của Văn phòng Đ chi nhánh huyện C, nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC679565, vào số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00754hF, thừa số 1706, tờ bản đồ số 07, toạ lạc xã M, huyện C, tỉnh An Giang, do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 08/11/2005..."

Sau khi Tòa án ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, T cho rằng Thẩm phán L1 có hành vi nhận hối lộ của nguyên đơn là ông H1, bà H2 nên ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận không đúng pháp luật. Ngày 25/5/2022, T gửi đơn tố cáo Thẩm phán Lễ có hành vi nhận hối lộ đến Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

Ngày 08/9/2022, ông Lê Hồng S đại diện Tòa án nhân dân tỉnh An Giang tiến hành làm việc, ghi lời khai, T trình bày: Tại phiên tòa các bên đương sự không tự thỏa thuận được nhưng Thẩm phán Lễ ra Quyết định công nhận thỏa thuận tại phiên tòa là trái pháp luật, T cho rằng Thẩm phán Lễ có hành vi nhận hối lộ để ra quyết định trái pháp luật, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích của T. Xét nội dung tố cáo của T liên quan đến kết quả giải quyết vụ án dân sự, ông S giải thích, hướng dẫn T thực hiện quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh để giải quyết theo trình tự giám đốc thẩm đối với vụ án.

Không đồng ý với kết quả làm việc, hướng dẫn của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, từ ngày 24/8/2019 đến ngày 16/11/2020, T tiếp tục gửi 29 đơn đến Thường trực Tỉnh ủy và Ủy ban kiểm tra Tỉnh ủy A, bịa đặt, tố cáo Thẩm phán Cao Minh L1 có hành vi nhận hối lộ trong khi thi hành công vụ. Cùng với việc gửi đơn tố cáo, ngày 23/9/2019, T đến Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang nhận 500.000.000 đồng từ kết quả thi hành Quyết định công nhận thỏa thuận số 131A/2018/QĐST-DS ngày 27/12/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang. Sau khi nhận được tiền thi hành án, T vẫn tiếp tục viết và đăng tải khoảng 50 lượt bài viết có nội dung vu khống Thẩm phán Lễ trên trang Facebook cá nhân của T.

Ngày 12/10/2022 và ngày 11/11/2022, ông L1 có đơn gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh A, yêu cầu khởi tố hình sự và Tòa án nhân dân tỉnh An Giang có Công văn số 1072 gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A, kiến nghị, yêu cầu thụ lý, xử lý hành vi của T.

Tại Cáo trạng số 05/CT-VKSAG-P2 ngày 12 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang truy tố bị cáo Bùi Thiện T về tội “Vu khống” theo điểm đ khoản 2 Điều 156 Bộ luật Hình sự.

Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 15/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã quyết định:

Căn cứ điểm đ, e khoản 2 Điều 156; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Bùi Thiện T phạm tội “Vu khống”.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Thiện T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Bùi Thiện T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo làm trong hạn luật định và hợp lệ, Hội đồng xét xử, bị cáo đã tuân thủ đầy đủ quy định của Bộ luật Tố Tụng Hình sự.

Về nội dung kháng cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận tội danh, chỉ xin xem xét được hưởng án treo, xét thấy các tình tiết và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận tội của bị cáo đủ cơ sở xác định bị cáo phạm tội “ Vu khống”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm đ, e Khoản 2 Điều 156 Bộ luật hình sự, cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo và đưa ra mức hình phạt phù hợp tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, tại cấp phúc thẩm, bị cáo không xuất trình tình tiết giảm nhẹ mới, đề nghị không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Bùi Thiện T.

- Bị cáo: Bị cáo rất ăn năn hối cải, bị cáo hiện tại sức khỏe yếu, hoàn cảnh khó khăn, xin tòa cho hưởng án treo để bị cáo được trực tiếp tự mình cải tạo trở thành công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Bùi Thiện T làm trong hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2]Về nội dung kháng cáo xin hưởng án treo:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Theo đó, lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đầy đủ căn cứ xác định:

Bùi Thiện T đã có hành vi gửi đơn tố cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, Thường trực Tỉnh ủy và Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy A đồng thời viết bài đăng tin trên trang Facebook cá nhân bịa đặt, vu khống ông Cao Minh L1 là Thẩm phán của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang có hành vi nhận hối lộ trong khi thi hành công vụ để xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của ông L1.

Xét thấy, hành vi nêu trên của bị cáo thuộc trường hợp “Đối với người đang thi hành công vụ” và “Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội”, là các tình tiết tăng nặng định khung được quy định tại điểm đ, e khoản 2 Điều 156 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Như vậy, cấp sơ thẩm xác định bị cáo Bùi Thiện T đã phạm vào tội “Vu khống”, tội phạm được quy định và trừng phạt tại các điểm đ, e khoản 2 Điều 156 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; có khung hình phạt từ 01 năm đến 03 năm tù là có căn cứ.

Xét về tính chất vụ án, nhận thấy: Vụ án tuy thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền và lợi ích hợp pháp của con người. Không những thế, hành vi vu khống còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến niềm tin của nhân dân vào việc thực thi pháp luật của Cơ quan tư pháp và những người thi hành công vụ. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Xét về nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay, cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tự nguyện đăng tin đính chính trên trang facebook cá nhân về nội dung tố cáo Thẩm phán Lễ sai sự thật. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ mới, xét thấy cấp sơ thẩm xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ và xử phạt bị cáo mức án 01 năm tù là phù hợp với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội đối với bị cáo do đó kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo không được chấp nhận.

[3] Do không được chấp nhận kháng cáo, bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định, tuy nhiên bị cáo là người cao tuổi nên được miễn án phí.

Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Thiện T, giữ nguyên bản án Hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 15/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

Căn cứ điểm đ, e khoản 2 Điều 156; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Bùi Thiện T phạm tội “Vu khống”.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Thiện T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP.HCM;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Công an tỉnh An Giang;
  • - Cục THADS tỉnh An Giang;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh An Giang;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VP, HSVA (HKN).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Dương Tuấn Vinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 746/2024/HS-PT ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (vu khống)

  • Số bản án: 746/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vu khống)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger