Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 746/2023/DS-PT

Ngày: 25-10 - 2023

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất và

yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Tám

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Minh Thịnh

Ông Chung Văn Kết

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 394/2023/TLPT-DS ngày 18 tháng 7 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 24/2023/DS-ST ngày 31 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tinh Bình Thuận bị kháng cáo.Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 5532/2023/QĐ-PT ngày 06 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê Hữu Q, sinh năm 1967 và bà Lê Thị Hồng Đ, sinh năm 1967; cùng địa chỉ: Số H thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận (cả hai đều có mặt).

- Bị đơn: Bà Trịnh Thị D, sinh năm 1965 và ông Đoàn Văn H, sinh năm 1965; cùng địa chỉ: Tổ D, thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận (cả hai đều có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận. Địa chỉ: Số C T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo pháp luật: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện H (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đăng H1 là Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện H, tỉnh Bình Thuận (theo văn bản ủy quyền ngày 14/11/2022) (có mặt).

-Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Lê Hữu Q và bà lê Thị Hồng Đ1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lê Hữu Q và bà Lê Thị Hồng Đ trình bày:

Năm 1987, bà là Lê Thị H2 (chết năm 2012) là mẹ ông Lê Hữu Q có cho ông Lê Hữu Q thửa đất, hướng Nam giáp với đất của mẹ ông Q; hướng Tây giáp đường đi T; hướng Đông giáp với đất của ông Phạm Hữu H3 và ông Thái Văn T; phía Bắc giáp ông Đỗ Minh Đ2.

Vợ chồng ông Q có làm một lò gạch ở phần đất phía sau giáp với ông Phạm Hữu H3 và ông Thái Văn T; phía Bắc giáp ông Đỗ Minh Đ2 nhưng làm ăn thất bại nên ông Q bán một phần đất phía sau cho ông Phạm G, lúc đó chỉ giao đất thực địa chứ không có làm giấy tờ, còn phần đất còn lại ông Quý h cho nhà nước nhưng có chừa con đường 03 m để ông Q với ông G đi. Gia đình ông Q vẫn sử dụng con đường đi đó cho đến nay. Con đường này không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của của vợ chồng ông Q; vợ chồng ông Q cũng không biết con đường này có nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng ông H hay không. Do vợ chồng ông Q thấy con đường này diện tích ít nên chưa đăng ký quyền sử dụng con đường này với cơ quan có thẩm quyền. Thế nhưng sau đó vợ chồng ông H đến lấn chiếm con đường. Lúc đó vợ chồng ông Q có yêu cầu cán bộ địa chính đến lập biên bản, nhưng dù đã lập biên bản, ông H, bà D vẫn xây 03 cột trụ để làm vòm chợ. Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • - Buộc bà Trịnh Thị D, ông Đoàn Văn H trả cho vợ chồng ông Q, bà Đ con đường 03m x 17,7m = 53,1m², tọa lạc tại thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
  • - Buộc ông H, bà D tháo dỡ 03 trụ gạch trên con đường 03m x 17,7m = 53,1m² tọa lạc tại thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
  • - Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 780179 do UBND huyện H cấp ngày 20/10/2008, cập nhật biến động cho bà Trịnh Thị D, ông Đoàn Văn H ngày 01/11/2019.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Trịnh Thị D và ông Đoàn Văn H trình bày:

Thửa đất vợ chồng bà Trịnh Thị D đang sử dụng đã được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 780179 cấp ngày 20/10/2008 cho ông K Trường Vân thuộc thửa đất số 01, tờ bản đồ số 00, diện tích 1.404m² tọa lạc tại thôn L, xã T, huyện H.

Năm 2017, ông Khúc Trường V chuyển nhượng cho ông Trần Quốc T1 theo hồ sơ chuyển nhượng số 1467.CN.VP ngày 22/12/2017; được cập nhật biến động chuyển nhượng ngày 09/01/2018.

Năm 2019, bà Trịnh Thị D nhận chuyển nhượng lại của ông Trần Quốc T1 theo hồ sơ chuyển nhượng số 2581.CN.VP; được cập nhật biến động chuyển nhượng ngày 01/11/2019.

Phần diện tích đất vợ chồng bà D đang sử dụng hiện tại đã được UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như trình bày trên là phần diện tích sử dụng hợp pháp của vợ chồng bà, thuộc trong thửa đất số 01, tờ bản đồ số 00, diện tích 1.404m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 780179 do UBND huyện H cấp ngày 20/10/2008 cho hộ ông Khúc Trường V, cập nhật biến động cho bà Trịnh Thị D ngày 01/11/2019 nên việc ông Lê Hữu Q và bà Lê Thị Hồng Đ khởi kiện là không đúng nên vợ chồng bà D không đồng ý.

Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận trình bày:

1. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 780179:

Ngày 15/6/2004, UBND huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 819694, vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 674 QSDĐ/UB-TL cho hộ K Tường Vân đối với thửa đất số 01, tờ bản đồ ĐĐL, diện tích 1.404 m² (đất ở 300 m² và đất trồng cây hàng năm khác 1.104m²) tại xã T.

Ngày 25/9/2008, hộ ông Khúc Trường V có Đơn xin cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do sai tên (giới tỉnh) chủ sử dụng đất.

Ngày 15/10/2008, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất Hàm Thuận N có ý kiến tại mục II Đơn xin cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông K Trường Vân với nội dung: nguồn gốc đất hợp pháp, có đầy đủ giấy tờ theo quy định. Đủ điều kiện cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ngày 20/10/2008, UBND huyện cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 780179, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H 03575 cho hộ ông Khúc Trường V đối với thửa đất số 01, tờ bản đồ số 00, diện tích 1.404 m² (đất ở 300 m² và đất trồng cây hàng năm khác 1.104 m²) tại thôn L, xã T.

Căn cứ Điều 143 và Điều 144 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai thì việc UBND huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 780179 cho hộ ông Khúc Trường V là đúng quy định pháp luật.

2. Về nguồn gốc sử dụng đất: Thửa số 01, tờ bản đồ số 00 với diện tích 1.404 m² do gia đình bà Nguyễn Thị H4 (mẹ của ông Lê Hữu Q) khai hoang sử dụng từ 1975, đến năm 1989 sang nhượng lại cho ông Phạm G sử dụng. Đến năm 1994, ông Phạm G sang nhượng lại cho Lê Công N1 sử dụng. Đến năm 1996, ông Lê Công N1 sang nhượng lại cho ông Khúc Trường V sử dụng. Năm 2004, hộ ông Khúc Trường V làm thủ tục xin đăng ký cấp GCNQSD đất và được UBND huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 819694 ngày 15/6/2004. Ngày 25/9/2008, hộ ông Khúc Trường V có Đơn xin cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do sai tên (giới tính) chủ sử dụng đất và được UBND huyện cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 780179 ngày 20/10/2008.

20/10/2008.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 24/2023/DS-ST ngày 31 tháng 5 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận quyết định :

Căn cứ vào:

  • - Khoản 9 Điều 26; Điều 34; Điều 37; Điều 39, khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 502; Điều 503 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Khoản 3 Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013;
  • - Khoản 1 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Hữu Q, bà Lê Thị Hồng Đ về việc:

  • - Buộc bà Trịnh Thị D, ông Đoàn Văn H trả cho vợ chồng ông Q, bà Đ con đường 03m x 17,7m = 53,1m², tọa lạc tại thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
  • - Buộc ông H, bà D tháo dỡ 03 trụ gạch trên con đường 03m x 17,7m = 53,1m² tọa lạc tại thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
  • - Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 780179 do UBND huyện H cấp ngày 20/10/2008, cập nhật biến động cho bà Trịnh Thị D, ông Đoàn Văn H ngày 01/11/2019.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, việc thi hành án và quyền kháng cáo vụ án theo luật định

- Ngày 05/6/2023, ông Lê Hữu Q, bà Lê Thị Hồng Đ kháng cáo yêu bà Trịnh Thị D, ông Đoàn Văn H trả cho vợ chồng ông Q, bà Đ con đường 03m x 17,7m = 53,1m², tọa lạc tại thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Buộc ông H, bà D tháo dỡ 03 trụ gạch trên con đường 03m x 17,7m = 53,1m²; huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất liên quan đến diện tích đất nêu trên.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Ông Lê Hữu Q, bà Lê Thị Hồng Đ giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
  • - Bà Trịnh Thị D, ông Đoàn Văn H không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của phía nguyên đơn. Đề nghị giữ y án sơ thẩm.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phát biểu quan điểm như sau: Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Hữu Q, bà Lê Thị Hồng Đ vì cả hai không cung cấp chứng cứ chứng minh cho việc kháng cáo, án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp nên cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Xét đơn kháng cáo của ông Lê Hữu Q, bà Lê Thị Hồng Đ yêu cầu bà Trịnh Thị D, ông Đoàn Văn H trả cho vợ chồng ông Q, bà Đ con đường 03m x 17,7m = 53,1m², tọa lạc tại thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận, diện tích đất nêu trên qua đo đạt thực tế nằm trong thửa 01, tờ bản đồ 00 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 780179 do UBND huyện H cấp ngày 20/10/2008, cập nhật biến động cho bà Trịnh Thị D, ông Đoàn Văn H ngày 01/11/2019, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[1.1] Nguồn gốc thửa số 01, tờ bản đồ số 00 với diện tích 1.404m² do gia đình bà Nguyễn Thị H4 (mẹ của ông Lê Hữu Q) khai hoang sử dụng từ 1975, đến năm 1989 sang nhượng lại cho ông Phạm G sử dụng. Đến năm 1994, ông Phạm G sang nhượng lại cho Lê Công N1 sử dụng. Đến năm 1996, ông Lê Công N1 sang nhượng lại cho ông Khúc Trường V sử dụng, toàn bộ diện tích các bên chuyển nhượng chỉ viết giấy tay, không cụ thể chi tiết vị trí tiếp giáp của thửa đất. Sau khi nhận chuyển nhượng năm 2004, hộ ông Khúc Trường V làm thủ tục xin đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 819694 ngày 15/6/2004. Ngày 25/9/2008, hộ ông Khúc Trường V có Đơn xin cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do sai tên (giới tính) chủ sử dụng đất và được UBND huyện H cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 780179 ngày 20/10/2008. Năm 2017, ông Khúc Trường V chuyển nhượng cho ông Trần Quốc T1, được cập nhật biến động chuyển nhượng ngày 09/01/2018. Năm 2019, bà Trịnh Thị D nhận chuyển nhượng lại của ông Trần Quốc T1, được cập nhật biến động chuyển nhượng ngày 01/11/2019.

[1.2] Giáp ranh với thửa đất số 01 nêu trên là thửa đất số 03, tờ bản đồ số 00, diện tích 504m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 606970 do UBND huyện H cấp ngày 23/11/2005 cho hộ bà Lê Thị H2. Đến ngày 03/10/2016, để thừa kế cho ông Lê Hữu Q và đã cập nhật biến động cho ông Q.

[1.3] Nguyên đơn ông Q, bà Đ trình bày giữa hai thửa đất này có tồn tại một con đường 03m do gia đình ông chừa lại để làm con đường đi từ năm 1987 đến nay, con đường này không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của của vợ chồng ông Q, do vợ chồng ông Q thấy con đường này diện tích ít nên chưa đăng ký quyền sử dụng con đường này với cơ quan có thẩm quyền. Tại phiên tòa ông Q bà Đ khai nại việc quản lý sử dụng diện tích đất trên nhưng tổng diện tích không rõ bao nhiêu (do chưa đo đạc cụ thể) và cụ thể diện tích đất tứ cận góc cạnh, chỉ biết gia đình có chừa lại con đường ngang 3m, dài 17m do gia đình quản lý. Tuy nhiên ông Q, bà Đ không có tài liệu chứng cứ chứng minh về việc kê khai đăng ký tại địa phương cũng như việc tặng cho quyền sử dụng của mẹ ông Q là bà Nguyễn Thị H4 liên quan đến phần diện tích con đường có chiều ngang 3m mà ông Q, bà Đ đang tranh chấp.

[1.4] Tại văn bản số 21/UBND ngày 23/02/2023 của UBND xã T, huyện H có nội dung trả lời thửa đất số 01 của vợ chồng bị đơn ông H, bà D và thửa đất số 03 của vợ chồng nguyên đơn ông Q, bà Đ là hai thửa đất liền kề giáp ranh không có lối đi và phần diện tích đất này thuộc trong thửa đất số 01, tờ bản đồ số 00, diện tích 1.404 m², giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 780179 của vợ chồng ông H, bà D. Về mặt quản lý hồ sơ, bản đồ hiện trạng vị trí đất trên không có con đường đi.

Mặt khác, nguồn gốc thửa số 01, tờ bản đồ số 00 với diện tích 1.404 m² do bà Nguyễn Thị H4 khai hoang (mẹ của ông Lê Hữu Q), sau đó chuyển nhượng cho nhiều người, đến năm 2004 ông Khúc Trường V nhận chuyển nhượng và được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 819694 ngày 15/6/2004. Sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 01 từ năm 2004, thời điểm này phần diện tích giáp ranh là bà Nguyễn Thị H4 (mẹ ông Q) vẫn quản lý, sử dụng thửa đất số 03 ở giáp ranh nhưng bà H4 vẫn không có ý kiến gì về con đường đi, không tranh chấp gì đối với những người nhận chuyển nhượng thửa đất số 01, các bên đều sử dụng ranh đất ổn định. Sau đó ngày 20/10/2008 ông Khúc Tường V1 được UBND huyện H cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 780179 và ông Khúc Trường V chuyển nhượng cho ông Trần Quốc T1 và ông T1 tiếp tục chuyển nhượng cho bà Trịnh Thị D và được cập nhật biến động vào ngày 01/11/2019, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật, vợ chồng ông H, bà D đã quản lý ổn định và làm ranh giới thửa đất là 03 cột trụ.

Đến ngày 03/10/2016 ông Q nhận thừa kế từ bà H4 đối với thửa đất số 03 và năm 2020 ông Q phát sinh tranh chấp. Việc nguyên đơn ông Q, bà Đ trình bày từ trước đến nay có tồn tại một con đường có chiều ngang 03m, chiều dài 17m do gia đình ông chừa lại để làm con đường đi từ năm 1987 đến nay là không có cơ sở. Ông Q, bà Đ là nguyên đơn khởi kiện không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh cho yêu cầu của mình về phần diện tích đất trên thuộc quyền quản lý, sử dụng của vợ chồng ông bà mà nghĩa vụ chứng minh thuộc trách nhiệm của ông bà theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự nên bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn là có căn cứ.

[2] Do không có căn cứ về việc yêu cầu trả lại diện tích đất như phân tích tại mục [1] nên yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 780179 do UBND huyện H cấp ngày 20/10/2008, cập nhật biến động cho bà Trịnh Thị D, ông Đoàn Văn H ngày 01/11/2019 không có cơ sở chấp nhận.

[3] Phía nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ nào khác so với án sơ thẩm. Từ những phần tích như trên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm quyết định không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

[4] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Lê Hữu Q, bà Lê Thị Hồng Đ phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Không chấp kháng cáo của ông Lê Hữu Q, bà Lê Thị Hồng Đ. Giữ nguyên Bản án số 24/2023/DS-ST ngày 31 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tinht Bình Thuận.

Áp dụng

  • - Khoản 9 Điều 26; Điều 34; Điều 37; Điều 39, khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 502; Điều 503 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Khoản 3 Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013;
  • - Khoản 1 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Hữu Q, bà Lê Thị Hồng Đ về việc:

  • - Buộc bà Trịnh Thị D, ông Đoàn Văn H trả cho vợ chồng ông Q, bà Đ con đường 03m x 17,7m = 53,1m², tọa lạc tại thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
  • - Buộc ông H, bà D tháo dỡ 03 trụ gạch trên con đường 03m x 17,7m = 53,1m² tọa lạc tại thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
  • - Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 780179 do UBND huyện H cấp ngày 20/10/2008, cập nhật biến động cho bà Trịnh Thị D, ông Đoàn Văn H ngày 01/11/2019.

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Hữu Q, bà Lê Thị Hồng Đ, mỗi người phải chịu 300.000 đồng dân sự phúc thẩm dân sự, được khấu trừ vào số tiền đã nộp 600.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai thu tiền số 0015394 và 0015394 ngày 20/6/2023 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận (ông Q, bà Đ đã nộp đủ).

3. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Cục THADS tỉnh Bình Thuận;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.(An-TLQ)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Văn Tám

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 746/2023/DS-PT ngày 25/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 746/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/10/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn: Ông Lê Hữu Quý và bị đơn: Bà Trịnh Thị Dung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger