Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 745/2023/DS-PT

Ngày: 25/10/2023

V/v “Tranh chấp về thừa kế tài sản”

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Chánh Trung

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thúy Hồng

Ông Ngô Đức Thọ

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Đức Thiện, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại

Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham

gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Dũng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 19 và 25 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 293/2023/TLPT- DS ngày 25 tháng 05 năm 2023 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.

1/ Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1965; trú tại 1 N, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn B: Ông Lê Sĩ K, sinh năm 2000 (có mặt), trú tại 202 L, phường T, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai; và Bà Lê Trần Song K1, sinh 1995 (có mặt); trú tại 5 đường T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Bị đơn:

2.1/ Ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1961; Địa chỉ: B S.68th S, P, PA A, USA. (vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn B1: ông Nguyễn Văn B2 sinh năm 1977; trú tại G P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, (Giấy ủy quyền lập ngày 15/8/2022 tại Văn phòng C). (có mặt)

2.2/ Ông Nguyễn Văn B2, sinh nărn 1977; Trú tại G P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Văn B2: Luật sư Nguyễn Thanh L, thuộc Văn phòng L1 - Đoàn luật sư Thành phố H. Địa chỉ: 2 N, P, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

3/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1/ Bà Nguyễn Thị P1, sinh năm 1963; Trú tại 2 đường X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin vắng mặt)

3.2/ Bà Nguyễn Thị P2, sinh năm 1968; Trú tại G P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin vắng mặt)

3.3/ Ông Nguyễn Thanh B3, sinh năm 1969; Địa chỉ: B S.68th S, P, PA A, USA. (có đơn xin vắng mặt)

3.4/ Bà Nguyễn Thị Kim P3, sinh năm 1970; Trú tại 1 đường X, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của bà P2, bà P3 và ông B3: Ông Nguyễn Văn B (Là nguyên đơn trong vụ án), theo Giấy ủy quyền ngày 29/10/2018 và Giấy ủy quyền ngày 16/5/2019 tại phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

3.5/ Ông Nguyễn Văn B4, sinh năm 1967; Trú tại G P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn B4: Ông Nguyễn Đặng Bằng A, sinh 1990; Trú tại G P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy ủy quyền 13/4/2018, tại phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

3.6/ Ông Nguyễn Văn B5, sinh năm 1973; Trú tại G P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin vắng mặt)

3.7/ Ông Nguyễn Văn B2, sinh năm 1974; Trú tại G P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

3.8/ Bà Nguyễn Thanh H, sinh năm 1980; Địa chỉ: G P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin vắng mặt)

3.9/ Bà Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 1973; Địa chỉ: B S.68th S, P, PA A, USA. (vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Mỹ T và bà Nguyễn Thanh H: Ông Nguyễn Văn B2, sinh năm 1977 (Là bị đơn trong vụ án), theo Giấy ủy quyền lập ngày 15/8/2022, tại Văn phòng C.

3.10/ Phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ: B đường N, Phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin vắng mặt)

4/ Người làm chứng:

4.1/ Ông Dương Ngô H1 (có mặt)

2

4.2/ Bà Lâm Thị B6 (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Văn B có ông Lê Sĩ K và Bà Lê Trần Song K1 là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Cha mẹ nguyên đơn là cụ Nguyễn Văn M và cụ Trần Thị P4 có tất cả 10 người con chung, gồm: Ông Nguyễn Văn B1, bà Nguyễn Thị P1, ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn B4, bà Nguyễn Thị P2, ông Nguyễn Thanh B3, bà Nguyễn Thị Kim P3, ông Nguyễn Văn B5, ông Nguyễn Văn B2 sinh năm 1974 và Nguyễn Văn B2 sinh năm 1977. Cụ Nguyễn Văn M và cụ Trần Thị P4 không có con nuôi, không có con riêng và không nhận ai làm cha mẹ nuôi. Trong thời kỳ hôn nhân cụ M và cụ P4 đã tạo lập được những tài sản sau:

1/ Nhà đất tại địa chỉ: G P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, được Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 671/2004 ngày 15/4/2004.

2/ 1.832m2 đất, có số thửa đất 140, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang, được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01325 QSDĐ/1/54 ngày 15/4/2003.

Ngày 22/02/2005 cụ Nguyễn Văn M chết, cụ không để lại di chúc.

Ngày 17/11/2005, cụ Trần Thị P4 gọi các anh em của ông đến phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh để ký cho một mình cụ đứng tên chủ sở hữu nhà đất số G P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, để tiện việc sau này cụ bán chia đều cho các con. Những người đi đến phòng C2 gồm có: Ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn B4, bà Nguyễn Thị P2, ông Nguyễn Thanh B3, bà Nguyễn Thị Kim P3, ông Nguyễn Văn B5, ông Nguyễn Văn B2 sinh năm 1974 và Nguyễn Văn B2 sin năm 1977. Lúc này ông Nguyễn Văn B1 đang ở nước ngoài, còn bà Nguyễn Thị P1 không tham gia.

Ngày 23/4/2012 cụ Trần Thị P4 chết, đến khoảng tháng 12 năm 2012 thì Nguyễn Văn B2 sinh năm 1977 đưa cho nguyên đơn bản photo tờ Di chúc ghi ngày 15/4/2010, người lập di chúc là cụ Trần Thị P4. Theo đó cụ P4 để lại toàn bộ căn nhà G P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh và 1.832m2 đất có số thửa 140, tờ bản đồ số 3, tại xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang cho vợ chồng ông Nguyễn Văn B1 và bà Nguyễn Thị Mỹ T sở hữu. Ông thấy nội dung di chúc không đúng với lời hứa của cụ P4 khi làm bản phân chia thừa kế, nên ông phản đối và đề nghị bán nhà để chia đều cho các anh em, nhưng ông Nguyễn Văn B1 và ông Nguyễn Văn B2 sinh 1977 không đồng ý. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu tòa tuyên bố “Biên bản phân chia di sản thừa kế ngày 17/11/2005 tại Phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh” và “Di chúc của bà Trần Thị P4 lập ngày 15/4/2010” là vô hiệu; yêu cầu chia di sản thừa kế là nhà đất tại G P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyên đơn không yêu cầu chia thừa kế 1.832m2 đất, tọa lạc tại xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Nguyên đơn xác định từ ngày cụ Trần Thị P4 chết thì ông Nguyễn Văn B2 sinh 1974, ông Nguyễn Văn B2 sinh 1977, bà Nguyễn Thanh H, ông Nguyễn Văn B5 và bà Nguyễn Thị P2 trực tiếp ở và quản lý nhà đất tại địa chỉ G P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình ở trong căn nhà này các ông bà trên không xây mới hoặc sửa chữa lớn và cũng không cho ai thuê, không cho ai ở nhờ.

Tài liệu chứng cứ giao nộp cùng đơn khởi kiện bao gồm:

3

  • - Tờ “Di chúc” của cụ Trần Thị P4 lập ngày 15/4/2010, bản photocopy.
  • - Biên bản phân chia di sản thừa kế ngày 17/11/2005 tại Phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Giấy chứng tử cụ Nguyễn Văn M và cụ Trần Thị P4.
  • - Giấy khai sinh Nguyễn Văn B.
  • - Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất căn nhà G P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh bản phô tô có Công chứng.

Tại phiên tòa người đại diện của nguyên đơn yêu cầu như sau:

  • - Tuyên bố “Biên bản phân chia di sản thừa kế ngày 17/11/2005 tại Phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh” là vô hiệu, do thiếu người ở hàng thừa kế thứ nhất của cụ M là ông Nguyễn Văn B1 và bà Nguyễn Thị P1.
  • - Tuyên bố “Di chúc của bà Trần Thị P4 lập ngày 15/4/2010” là vô hiệu, do bị lừa dối và hình thức thì di chúc không đúng quy định tại Điều 653, 654, 656 của Bộ luật dân sự năm 2005, cụ thể: Di chúc do đánh máy chứ không phải viết, người lập di chúc không ký vào từng trang, hai người làm chứng không rõ đã đủ 18 tuổi hay chưa, do không ghi ngày tháng năm sinh.
  • - Yêu cầu chia di sản thừa kế là nhà đất tại địa chỉ: G P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo pháp luật.

Tại các bản tự khai, biên bản tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Văn B2 sinh 1977 có ông Nguyễn Thanh L là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Bị đơn thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về những người ở hàng thừa kế thứ nhất của cụ Nguyễn Văn MTrần Thị P4 cũng như di sản của vợ chồng cụ để lại. Bị đơn không đồng ý toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, vì theo bị đơn trước ngày ký Biên bản phân chia di sản thừa kế thì cụ P4 đã nói mục đích làm bản phân chia di sản là để các anh em giao toàn bộ di sản của cụ M cho cụ P4, để sau này cụ P4 giao lại cho ông Nguyễn Văn B1 thừa hưởng, vì ông B1 là anh trai cả và nguồn tiền để xây dựng căn nhà này do ông B1 gởi về cho cụ xây. Bà Nguyễn Thị P1 và ông Nguyễn Văn B1 không ký vào Biên bản phân chia di sản thừa kế, nhưng không phản đối và đồng ý nội dung của Biên bản này. Còn Di chúc của cụ Trần Thị P4 lập ngày 15/4/2010 là hợp pháp, vì có hai người làm chứng. Mặc dù trong tờ di chúc có thiếu sót là không ghi rõ ngày tháng năm sinh của hai người làm chứng là ông Dương Ngô H1 và bà Lâm Thị B6, nhưng cả hai người này đều là nhân viên của Văn phòng L2 Luật, nên đều là người có năng lực hành vi. Bị đơn yêu cầu tòa bác toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, nếu tòa xác định Bản phân chia di sản thừa kế và di chúc của cụ P4 không hợp pháp thì bị đơn yêu cầu giải quyết vụ kiện theo quy định của pháp luật.

Bị đơn ông Nguyễn Văn B1 và bà Nguyễn Thị Mỹ T không có lời khai và đã ủy quyền cho ông Nguyễn Văn B2 (sinh năm 1977) tham gia tố tụng. Ông Nguyễn Văn B2 (sinh năm 1977) trình bày như sau:

Tại thời điểm làm Biên bản phân chia di sản thừa kế thì ông B1 đang ở nước ngoài nên không tham gia, nhưng sau đó ông B1 biết các anh chị em tự nguyện giao phần thừa kế di sản của cụ M cho cụ P4 thì ông B1 cũng đồng ý giao phần mà ông hưởng thừa kế của cụ M cho cụ P4. Ông B1 không biết cụ P4 lập di chúc vào lúc nào, nhưng sau khi cụ P4 chết thì ông B2 sinh năm 1977 đã gởi bản Di chúc của cụ P4 lập ngày 15/4/2010 cho ông B1 và ông B1 đồng ý toàn bộ nội dung di chúc này. Nay ông đại diện cho ông Nguyễn Văn B1 và bà Nguyễn Thị Mỹ T yêu cầu tòa tuyên bố Biên

4

bản phân chia di sản thừa kế ngày 17/11/2005 tại Phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh và Di chúc của bà Trần Thị P4 lập ngày 15/4/2010 có hiệu lực; yêu cầu tòa giao di sản thừa kế của cụ Trần Thị P4 là toàn bộ căn nhà G P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cho vợ chồng ông Nguyễn Văn B1 và bà Nguyễn Thị Mỹ T sở hữu. Trường hợp tòa xác định không hợp pháp bản phân chia di sản thừa kế và di chúc của cụ P4 không hợp pháp thì yêu cầu tòa giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại các bản tự khai, biên bản tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tại phiên tòa Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị P2, ông Nguyễn Thanh B3 và bà Nguyễn Thị Kim P3, do ông Nguyễn Văn B7 trình bày:

Cha mẹ của các đương sự là cụ Nguyễn Văn M và cụ Trần Thị P4 có 10 người con và có tài sản như nguyên đơn trình bày. Còn về lý do, mục đích ký Biên bản phân chia di sản thừa kế, giao di sản của cụ M cho cụ P4 là để cho tiện việc sau này cụ P4 đứng ra bán chia đều cho các con, vì mỗi người ở mỗi nơi. Ông B3, bà P3 và bà P2 đều cho rằng nội dung di chúc của cụ P4 là trái với thỏa thuận ban đầu. Ông B3, bà P3 và bà P2 yêu cầu tòa tuyên bố Biên bản phân chia di sản thừa kế ngày 17/11/2005 tại Phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh và Di chúc đứng tên cụ Trần Thị P4 lập ngày 15/4/2010 là vô hiệu; yêu cầu chia di sản thừa kế là nhà đất tại G P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo pháp luật. Bà P2, ông B3 và bà P3 không yêu cầu chia thừa kế 1.832m2 đất, tại xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Tại phiên tòa ông Nguyễn Đặng Bằng A, đại diện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn B4 trình bày: Nhưng tại các bản tự khai, biên bản tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ông B4 trình bày:

Ông thống nhất với nội dung trình bày của nguyên đơn về những người thừa kế và di sản của cụ Nguyễn Văn M và cụ Trần Thị P4 để lại, cũng như lý do ông đến phòng Công chứng ký vào biên bản phân chia di sản thừa kế. Ông yêu cầu tòa tuyên bố Biên bản phân chia di sản thừa kế ngày 17/11/2005 tại Phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh và Di chúc của cụ Trần Thị P4 lập ngày 15/4/2010 là vô hiệu; yêu cầu tòa chia di sản thừa kế là nhà đất tại địa chỉ G P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông thừa hưởng. Ông không yêu cầu chia 1.832m2 đất, tọa lạc tại xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Ông xác định từ ngày cụ P4 chết đến nay căn nhà vẫn giữ nguyên trạng, không có tu bổ sửa chữa gì.

Tại các bản tự khai, biên bản tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn B2, sinh 1974 trình bày:

Ông thống nhất như nội dung trình bày của nguyên đơn về quan hệ huyết thống cũng như di sản thừa kế của cụ M và cụ P4 để lại. Ông có tham gia ký Biên bản phân chia di sản thừa kế ngày 17/11/2005, theo yêu cầu của cụ P4 là để tiện việc sau này mẹ bán chia đều di sản lại cho các con. Ông không đồng ý nội dung tờ di chúc đứng tên Trần Thị P4, vì chữ ký của cụ P4 trong tờ di chúc này không giống với chữ ký của cụ P4 trong biên bản phân chia thừa kế. Ông yêu cầu tòa tuyên bố Biên bản phân chia di sản thừa kế ngày 17/11/2005 và Di chúc đứng tên Trần Thị P4 lập ngày 15/4/2010 là vô hiệu; yêu cầu chia di sản thừa kế là nhà đất tại địa chỉ G P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông theo pháp luật. Ông không yêu cầu chia diện tích 1.832m2, tại xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Ông xác định từ ngày cụ Trần Thị P4 chết thì ông cùng với ông Nguyễn Văn B2 sinh 1977, bà Nguyễn Thanh H, ông Nguyễn Văn B5 và bà Nguyễn Thị P2 trực tiếp ở tại căn nhà G P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình ở trong căn

5

nhà này không ai xây mới hoặc sửa chữa lớn và cũng không cho ai thuê, không cho ai ở nhờ.

Tại các bản tự khai, biên bản tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị P1 trình bày:

Bà thống nhất như nội dung trình bày của nguyên đơn về những người ở hàng thừa kế thứ nhất của cụ Nguyễn Văn MTrần Thị P4 cũng như di sản của vợ chồng cụ để lại. Bà xác định từ ngày cụ Trần Thị P4 chết thì vợ chồng ông Nguyễn Văn B2 sinh 1977, ông B2 sinh năm 1974, ông Nguyễn Văn B5 và bà Nguyễn Thị P2 trực tiếp ở tại căn nhà này. Quá trình ở không ai xây mới hoặc sửa chữa lớn và cũng không cho ai thuê, không cho ai ở nhờ. Bà không tham gia ký Biên bản phân chia di sản thừa kế ngày 17/11/2005 tại Phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh, là do không được cụ Trần Thị P4 thông báo, còn tờ di chúc đứng tên cụ Trần Thị P4 lập ngày 15/4/2010 bà không biết đúng hay sai. Bà yêu cầu được hưởng di sản thừa kế của cụ M theo pháp luật, nếu di chúc của cụ P4 không hợp pháp thì bà yêu cầu được hưởng di sản của cụ P4 theo pháp luật.

Tại phiên tòa bà trình bày: Cụ Trần Thị P4 có thông báo cho bà biết ngày 17/11/2005 đến phòng C2 ký giao phần được thừa kế di sản của cụ M cho cụ P4 sở hữu. Do bận công việc nên bà không tham gia ký, nhưng bà vẫn biết mục đích là ký giao toàn bộ di sản của cụ M cho cụ P4, để sau này cụ P4 giao lại cho vợ chồng ông Nguyễn Văn B1, vì nguồn tiền mà cụ P4 dùng để xây dựng căn nhà này do ông B1 gởi về. Dù bà không đến phòng Công chứng để ký vào Biên bản phân chia di sản thừa kế, nhưng bà không có ý kiến gì và đồng ý giao phần thừa kế di sản của cụ M cho cụ P4 sở hữu. Còn tờ di chúc đứng tên cụ Trần Thị P4 lập ngày 15/4/2010 theo bà thì đó là nguyện vọng của cụ P4.

Bà yêu cầu Tòa bác các yêu cầu của nguyên đơn và yêu cầu của bà Nguyễn Thị P2, ông Nguyễn Văn B4, ông Nguyễn Thanh B3, ông Nguyễn Văn B2 sinh 1974 và bà Nguyễn Thị Kim P3. Trường hợp Biên bản phân chia di sản thừa kế và di chúc của cụ P4 không hợp pháp thì bà yêu cầu được hưởng di sản của cụ M và cụ P4 theo pháp luật; Trường hợp Bản phân chia di sản thừa kế hợp pháp, còn di chúc của cụ P4 không hợp pháp thì bà yêu cầu được hưởng di sản của cụ P4 theo pháp luật. Bà không yêu cầu chia diện tích 1.832m2, tại xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thanh H trình bày:

Bà là vợ của Nguyễn Văn B2 sinh 1977. Căn nhà G P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh mà các đượng sự đang tranh chấp có trước khi ông B2 cưới bà. Từ ngày bà về ở căn nhà này thì bà không có đóng góp xây dựng sữa chữa gì. Bà xác định từ ngày cụ Trần Thị P4 chết thì vợ chồng bà cùng với ông Nguyễn Văn B2 sinh 1974, ông Nguyễn Văn B5 và bà Nguyễn Thị P2 trực tiếp ở. Quá trình ở không ai xây mới hoặc sửa chữa lớn và cũng không cho ai thuê, không cho ai ở nhờ.

Quá trình tố tụng vụ án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn B5 vắng mặt, tại phiên tòa ông B5 trình bày như sau:

Ông là con của cụ Nguyễn Văn M và cụ Trần Thị P4. Căn nhà đang tranh chấp là của cụ M và cụ P4 để lại. Ông có đến phòng C2 Thành phố Hồ Chí Minh ký vào Biên bản phân chia di sản thừa kế. Từ ngày cụ P4 chết đến nay ông vẫn ở tại căn nhà này, cùng với các anh em như các đương sự khác đã trình bày. Ông yêu cầu giao căn nhà cho vợ chồng ông Nguyễn Văn B1 như di chúc của cụ P4, nếu tòa chia di sản của cha

6

mẹ ông cho các anh em khác thì phải chia phần cho ông. Ông không yêu cầu chia diện tích 1.832m2, tại xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày như sau:

  • - Ngày 26/9/2005, Công chứng viên phòng C2 có nhận được yêu cầu của bà Trần Thị P4 và các đồng thừa kế đề nghị chứng nhận Biên bản phân chia thừa kế phần di sản do ông Nguyễn Văn M chết để lại, đối với căn nhà và quyền sử dụng đất tọa lạc tại số G P, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Công chứng viên đã kiểm tra, thu thập đầy đủ hồ sơ theo quy định tại Điều 41, Điều 42 và Điều 52 Nghị định 75/2000/NĐ-CP ngày 8/12/2000; Công chứng viên đã Thông báo niêm yết Biên bản Phân chia thừa kế và thực hiện niêm yết theo đúng quy định tại khoảng 3 Điều 52 Nghị định 75/2000. Sau 30 ngày Phòng C2 không có nhận bất cứ thông báo nào về việc bỏ sót người thừa kế, nên Phòng Công chứng chứng nhận vào Biên bản phân chia thừa kế.
  • - Tại thời điểm ký Biên bản phân chia thừa kế, những người thừa kế tự đọc lại nội dung dự thảo Biên bản phân chia thừa kế, đã được giải thích các quyền và nghĩa vụ, ý nghĩa, hậu quả của Biên bản và đã tự nguyện ký vào biên bản. Ông Nguyễn Văn B1 tự mình ký tên, ghi rõ họ tên thể hiện ý chí đồng ý của mình.

Phòng Công chứng đề nghị Tòa xét xử vắng mặt.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 399/2023/DS-ST ngày 30/3/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

  • - Căn cứ vào Điều 649, 650, 651, 659 và Điều 660 của Bộ Luật dân sự năm 2015.
  • - Căn cứ Điều 147, Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn B và một phần yêu cầu của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: ông Nguyễn Văn B4, bà Nguyễn Thị P2, ông Nguyễn Thanh B3, ông Nguyễn Văn B4, bà Nguyễn Thị Kim P3 và ông Nguyễn Văn B2 (1974).

- Xác định “Biên bản phân chia di sản thừa kế ngày 17/11/2005 tại Phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh” giữa bà Trần Thị P4 với ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn B4, bà Nguyễn Thị P2, ông Nguyễn Thanh B3, bà Nguyễn Thị Kim P3, ông Nguyễn Văn B5, ông Nguyễn Văn B2 sinh năm 1974 và ông Nguyễn Văn B2 sinh năm 1977, có hiệu lực.

- Xác định nhà đất tọa lạc tại số G P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh là di sản thừa kế của cụ Trần Thị P4.

- Chia cho Nguyễn Văn B1, bà Nguyễn Thị P1, ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn B4, bà Nguyễn Thị P2, ông Nguyễn Thanh B3, bà Nguyễn Thị Kim P3, ông Nguyễn Văn B5, ông Nguyễn Văn B2 sinh năm 1974 và ông Nguyễn Văn B2 sinh năm 1977, mỗi người 1/10 giá trị căn nhà G P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Các đương sự có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền phát mãi nhà đất tọa lạc tại G P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh để chia.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo luật định.

- Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Nguyễn Văn B2 (sinh năm 1977) đồng thời là người đại diện theo ủy quyền cho ông Nguyễn Văn B1, kháng cáo. Những người có

7

quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án như: bà Nguyễn Thị P1, ông Nguyễn Văn B5, bà Nguyễn Thanh H thì có đồng kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm, chấp nhận theo di chúc do cụ Trần Thị P4 lập ngày 15/4/2012, xử bác yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, những người có kháng cáo nêu trên vẫn giữ theo yêu cầu kháng cáo như trên.

Phía nguyên đơn ông Nguyễn Văn B và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn lại thì không có kháng cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông B cũng như người đại diện theo ủy quyền của ông B đồng ý phát mãi nhà-đất tại số G P, trả lại tiền xây nhà cho ông Nguyễn Văn B1 là 694.645.943 đồng. Sau khi trừ chi phí phát mãi, số còn lại chia cho 10 người con của cụ P4, không đồng ý công nhận theo di chúc của cụ P4 (vì di chúc trên vi phạm cả nội dung lẫn hình thức).

Luật sư bảo vệ quyền lợi cho ông Nguyễn Văn B2 (sinh năm 1977) thì đề nghị công nhận theo di chúc do cụ P4 lập ngày 15/4/2010.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng do cấp sơ thẩm chưa xem xét di chúc (vì tại cấp sơ thẩm chưa có bản chính), chưa xem xét đánh giá hết các chứng cứ, chưa giải quyết triệt để vụ án, nên đề nghị hủy án sơ thẩm, giao về cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn B2, sinh năm 1977 (bị đơn trong vụ án), cũng như đơn kháng cáo của các ông bà Nguyễn Thị P1, Nguyễn Văn B5, Nguyễn Thanh H (những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có kháng cáo) được làm và nộp trong thời hạn luật định nên đây là kháng cáo hợp lệ.

[2] Xét về nội dung vụ án thì thấy:

  • - Nguyên đơn ông Nguyễn Văn B khởi kiện đòi chia di sản của cha mẹ là ông Nguyễn Văn M và bà Trần Thị P4 để lại (do có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan định cư ở nước ngoài) nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý, giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự là đúng thẩm quyền.
  • - Về việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định hàng thừa kế của ông Nguyễn Văn M và bà Trần Thị P4, có 10 người con gồm: 1-Ông Nguyễn Văn B1; 2- Bà Nguyễn Thị P1; 3-Ông Nguyễn Văn B; 4-Ông Nguyễn Văn B4; 5-Bà Nguyễn Thị P2; 6-Ông Nguyễn Thanh B3; 7-Bà Nguyễn Thị Kim P3; 8-Ông Nguyễn Văn B5; 9-Ông Nguyễn Văn B2 (sinh năm 1974); 10-Ông Nguyễn Văn B2 (sinh năm 1977). Tòa án cấp sơ thẩm đưa những người nêu trên tham gia tố tụng là đầy đủ nên được giữ nguyên.
  • - Về di sản thừa kế, theo án sơ thẩm xác định: cụ Nguyễn Văn M, chết ngày 22/5/2005; cụ Trần Thị P4, chết ngày 23/4/2012. Cụ M chết không để lại di chúc. Sau khi cụ M chết, ngày 17/11/2005 cụ P4 có họp lại có 08 người con tham dự, trong đó có 02 người con không tham dự là ông Nguyễn Văn B1 (định cư ở nước ngoài) và bà Nguyễn Thị P1 do bận công việc không đến dự. Tại cuộc họp ngày 17/11/2005 do cụ P4 chủ trì để phân chia di sản phần cụ M để lại. Cuộc họp này có mặt 08 người con của cụ P4 (trong đó có ông Nguyễn Văn B là nguyên đơn trong vụ án), đồng ý để cho cụ P4 toàn quyền định đoạt di sản của cụ M để lại. Mặc dù vắng mặt ông B1, bà P1 nhưng theo lời khai của ông B1, bà P1 thì có biết nội dung cuộc họp ngày 17/11/2005 và đồng ý để cho mẹ (cụ P4) toàn quyền thừa hưởng di sản nêu trên (biên bản phân chia di sản ngày 17/11/2005 được phòng C2 Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận cùng ngày.

8

Theo án sơ thẩm xác định, kể từ ngày công chứng 17/11/2005, nhà-đất tại số G P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh là thuộc quyền sở hữu của cụ Trần Thị P4, là có căn cứ.

- Đối với di chúc do cụ Trần Thị P4 lập ngày 15/4/2010, Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng các đương sự không cung cấp được bản chính của Tờ di chúc nêu trên, nên không xác định được có tờ di chúc nêu trên hay không, nên xử chia thừa kế di sản của cụ Trần Thị P4 để lại là nhà-đất nêu trên cho 10 người con của cụ P4 và cụ M, mỗi người được hưởng 1/10 giá trị khi bán đấu giá nhà-đất nêu trên.

- Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Nguyễn Thị Mỹ T là vợ của ông Nguyễn Văn B1 gửi bản di chúc (bản chính) nêu trên từ nước ngoài gửi về cho bà Nguyễn Thanh H, bà H có kháng cáo và giao nộp bản chính tờ di chúc nêu trên cho Tòa án vào ngày 12/4/2023.

- Đối với phía nguyên đơn thì cho rằng tờ di chúc có nhiều trang không có chữ ký hoặc lăn tay giáp lai từng trang, trong di chúc không thể hiện ông Dương Ngô H1, bà Lâm Thị B6 là người đủ điều kiện làm chứng (vi phạm các Điều 652, 653, 654 BLDS năm 1995). Di chúc không viết tay mà lại đánh máy (vi phạm về hình thức và nội dung), nên đề nghị không công nhận tính hợp pháp của di chúc.

HĐXX xét thấy: Di chúc được lập vào thời điểm ngày 15/4/2010, nên áp dụng theo Bộ luật dân sự năm 2005 để giải quyết.

  • * Điều 652 của Bộ luật dân sự năm 2005 quy định như sau:
  • “1/ Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
  • a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;
  • b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.
  • ....
  • 4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này”.
  • * Điều 656 của Bộ luật dân sự năm 2005 quy định như sau:
  • “- Trong trường hợp người lập di chúc không thể tự mình viết bản di chúc thì có thể nhờ người khác viết, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.
  • - Việc lập di chúc phải tuân theo quy định tại Điều 653 và Điều 654 của Bộ luật này”.

Theo quy định trên thì di chúc được đánh máy bắt buộc phải có công chứng hoặc chứng thực.

Di chúc lập ngày 15/4/2010 mà phía bị đơn cung cấp không được viết tay, không có chứng thực, mà có hai người làm chứng thuộc văn phòng L2 Luật làm chứng, không có chữ ký từng trang của người lập di chúc, di chúc ghi 03 trang nhưng bản chính nộp tại tòa lại có 05 trang. Tại phiên tòa phúc thẩm, người làm chứng là ông Dương Ngô H1 khai: bà P4 nhờ bà B6 (nhân viên của văn phòng luật sư Hưng T1 Luật) đánh máy di chúc, ông H1 ký tên làm chứng xong đưa cho bà B6 ký, không có hướng dẫn bà P4 ký từng trang, việc bà B6 có hướng dẫn bà P4 ký hay không thì ông không biết.

9

Do di chúc trên được lập không tuân thủ về nội dung lẫn hình thức, nên HĐXX xác định di chúc trên là vô hiệu, nên xử không chấp nhận theo yêu cầu của ông Nguyễn Văn B2, bà Nguyễn Thị P1, ông Nguyễn Văn B5, bà Nguyễn Thanh H về việc đòi công nhận theo di chúc nêu trên.

Tuy nhiên, HĐXX xét thấy: việc xây dựng căn nhà trên là do ông Nguyễn Văn B1 gửi tiền về cho bà P4 xây nhà, phía đại diện cho ông B1 có yêu cầu được hưởng 50% giá trị nhà-đất nêu trên, phía nguyên đơn thì không đồng ý chia cho ông B1 50% giá trị bằng 8.800.000.000 đồng, mà chỉ đồng ý trả lại cho ông B1 694.645.943 đồng giá trị xây dựng nhà theo biên bản định giá ngày 14/11/2018, số còn lại thì yêu cầu chia cho 10 anh em của nguyên đơn được hưởng.

HĐXX xét thấy: việc đại diện cho ông B1 yêu cầu được chia 50% giá trị nhà-đất cho ông B1 bằng 8.800.000.000 đồng là không có căn cứ, mà chỉ chấp nhận theo sự thống nhất của nguyên đơn sau khi phát mãi nhà-đất nêu trên thì trả lại cho ông Nguyễn Văn B1 tiền xây dựng nhà 694.645.943 đồng. Sau khi trừ chi phí phát mãi, số còn lại chia cho 10 anh chị em của nguyên đơn là hợp tình, hợp lý, nên được ghi nhận.

Đối với việc đại diện Viện kiểm sát đề nghị hủy án sơ thẩm để xét xử lại thì HĐXX xét thấy như sau:

Do đương sự không cung cấp được bản chính của tờ di chúc ở cấp sơ thẩm nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét; Ở cấp phúc thẩm thì đương sự đã cung cấp được bản chính tờ di chúc nên Tòa án cấp phúc thẩm xét luôn vì nếu hủy án sơ thẩm để xem xét lại tờ di chúc thì cũng không làm thay đổi nội dung vụ án, nên HĐXX không chấp nhận hủy án sơ thẩm để xét xử lại theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

  • - Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn B2 (sinh năm 1977), bà Nguyễn Thị P1, ông Nguyễn Văn B5, bà Nguyễn Thanh H (ông B2 cũng là người đại diện cho ông B1).
  • Sửa một phần bản án sơ thẩm.

[2] Áp dụng Điều 649, 650, 651, 659 và Điều 660 của Bộ Luật dân sự năm 2015; Điều 147, Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn B và một phần yêu cầu của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: ông Nguyễn Văn B4, bà Nguyễn Thị P2, ông Nguyễn Thanh B3, bà Nguyễn Thị P3, ông Nguyễn Văn B2 (sinh năm 1974).

  • - Xác định “Biên bản phân chia di sản thừa kế ngày 17/11/2005 tại Phòng công chứng số 5 Thành phố C2 giữa bà Trần Thị P4 với các ông bà gồm: ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn B4, bà Nguyễn Thị P2, ông Nguyễn Thanh B3, bà Nguyễn Thị Kim P3, ông Nguyễn Văn B5, ông Nguyễn Văn B2 sinh năm 1974 và ông Nguyễn Văn B2 sinh năm 1977, có hiệu lực pháp luật.
  • - Xác định nhà-đất tọa lạc tại số G P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh là di sản của cụ Trần Thị P4 để lại.
  • - Xác định tờ Di chúc lập ngày 15/4/2010 do Văn phòng L2 Luật lập là vô hiệu.

10

  • - Cho phát mãi nhà-đất tại số G P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh nêu trên để trả lại tiền xây dựng nhà cho ông Nguyễn Văn B1 694.645.943 đồng. Sau khi trừ chi phí phát mãi, số còn lại được chia cho các ông bà gồm: ông Nguyễn Văn B1, bà Nguyễn Thị P1, ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn B4, bà Nguyễn Thị P2, ông Nguyễn Thanh B3, bà Nguyễn Thị Kim P3, ông Nguyễn Văn B5, ông Nguyễn Văn B2 sinh năm 1974 và ông Nguyễn Văn B2 sinh năm 1977, mỗi người được hưởng 1/10 phần giá trị nhà đất còn lại sau khi trừ số tiền 694.645.943 đồng trả cho ông B1 và chi phí phát mãi như trên.
  • - Các đương sự có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi nhà-đất tại số G P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh để phân chia như trên.
  • [3] - Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm đã xét xử không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  • [4] Ông Nguyễn Văn B2 (sinh năm 1977), bà Nguyễn Thị P1, ông Nguyễn Văn B5, bà Nguyễn Thanh H không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn B2 (sinh năm 1977) số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004568 ngày 28/4/2023; Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn B5 số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004567 ngày 28/4/2023; Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị P1 số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004569 ngày 28/4/2023; Hoàn trả cho bà Nguyễn Thanh H số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004570 ngày 28/4/2023 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25/10/2023.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao (1);
  • - VKSNDCC tại TP.HCM (1);
  • - TAND TP.HCM (1);
  • - VKSND TP.HCM (1);
  • - Đương sự;
  • - Cục THA DS TP.HCM (1);
  • - Lưu hồ sơ vụ án (2) (NĐT).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tô Chánh Trung

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 745/2023/DS-PT ngày 25/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 745/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/10/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sửa 1 phần BAST
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger