|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bản án số: 745/2025/DS-PT Ngày 23/12/2025 “V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Hoàng Khải
Các Thẩm phán:Bà Nguyễn Thị Thùy Trang
Bà Nguyễn Thị Trang Thư
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành Phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2025, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân Thành Phố Cần Thơ công khai xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 436/2025/TLPT-DS ngày 14 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 13 /2025/DS-ST, ngày 18/7/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 14 – Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 794/2025/QĐPT-DS ngày 25 tháng 11 năm 2025, giữa đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn K (K1), sinh năm 1967. Địa chỉ: Ấp Đ, xã C, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1970. Địa chỉ: Ấp Đ, xã C, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Huỳnh Văn Đ: Ông Nguyễn Huy K2, sinh năm 1987. Địa chỉ: số A, đường T, phường T, thành phố Cần Thơ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Võ Mỹ L (vợ ông M). Địa chỉ: Ấp Đ, xã C, thành phố Cần Thơ.
- Ông Huỳnh Chí L1 (con ông M). Địa chỉ: Ấp Đ, xã C, thành phố Cần Thơ.
- Bà Huỳnh Thị Kim H (con ông M). Địa chỉ: Ấp Đ, xã C, thành phố Cần Thơ.
- Bà Huỳnh Thị Kim N (con ông M). Địa chỉ: Ấp Đ, xã C, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Võ Mỹ L, bà Huỳnh Thị Kim H, bà Huỳnh Thị Kim N: Ông Huỳnh Chí L1.
- Ông Nguyễn Văn Quốc K3, sinh năm 1993 (con ông K). Địa chỉ: Ấp Đ, xã C, thành phố Cần Thơ.
- Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1967 (vợ ông K). Địa chỉ: Ấp Đ, xã C, thành phố Cần Thơ.
- Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố C.
Người đại diện tham gia tố tụng: Ông Lê Văn Ú – Chức vụ: Phó giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C.
Người kháng cáo: Ông Huỳnh Văn Đ là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày: Phần đất tranh chấp nguồn gốc của cậu ruột là ông Huỳnh Văn M (đã qua đời năm 2006) tặng cho ông, tặng cho miệng năm 1992. Năm 17 tuổi (năm 1980) ông về sống với cậu Mang do mẹ, cha ông đông con (gồm 04 người con), còn gia đình cậu đơn chiếc các con còn nhỏ không có người làm. Ông phụ giúp cậu công việc nhà từ năm 1980 đến năm 1990. Năm 1990 cậu M và mợ L là người cưới vợ cho ông K là bà P và cũng sống chung tại nhà ông M khoảng 2 năm đến năm 1992 thì cậu cho ông phần đất 1 công tầm lớn (khoảng 1300m²), để ra ở riêng. Khi cho không có giấy tờ; Hiện trạng đất lung, bào, hố bom ông đã cải tạo, lắp đất, bơm cát, san lắp và cất nhà ở trên vị trí đất ông M cho ông khoảng 30 năm.
Năm 2006 cậu Mang lâm bệnh nặng cậu có gọi ông lại nói trước mặt mợ L và các con phần đất này cậu cho ông vĩnh viễn, với điều kiện phải trả nợ Hội cựu chiến binh 7.000.000 đồng. Sau khi cậu Mang chết năm 2006, chôn cất xong thì ông đem 7.000.000 đồng đưa cho bà L để trả tiền cho Hội cựu chiến binh, không có giấy tờ. Đến ngày 21/9/2006 (al) Cậu Mang qua đời, khoảng vài tháng ông có đến nhà mợ L xin tách bằng khoán nhưng mợ L nói để từ từ tính, thời gian kéo dài đến ngày 22/5/2022 có địa chính đến đo đạc đất, ông hỏi thì biết em Đ làm lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay tiền. Ông không cho người ký giáp ranh, sau đó 02 ngày em Đ mời ông đến họp gia đình mợ L và các em Đ, L1, N, H ký giấy đồng ý cho ông toàn bộ phần đất ông đang ở. Sau đó ông đến nhà nhờ mợ và các em tách giấy đỏ cho ông thì xảy ra mâu thuẫn, mợ L và các em chỉ cho ông phần đất khoảng 200m².
Nguyên đơn yêu cầu khởi kiện buộc ông Huỳnh Văn Đ tách thửa công nhận quyền sử dụng đất cho ông phần đất như kết quả đo đạc tổng diện tích 1.124,5m² kèm theo đơn khởi kiện bổ sung.
Quá trình giải quyết người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nguồn gốc phần đất tranh chấp là tài sản chung của ông Huỳnh Văn M và bà Võ Mỹ L đã được cấp giấy chứng nhận năm 1994, sau khi ông M chết thì ông Huỳnh Văn Đ được mẹ và anh, chị em thống nhất cho hưởng thừa kế. Trước đây ông K ở chung nhà với ông M, bà L do ông K là cháu ruột kêu ông M bằng cậu, nên được nuôi dưỡng, cho ở chung. Đây là tài sản chung của ông M, bà L; Ông M chết bà L còn sống không đồng ý cho ông K vì ngày 01/6/2022 bà L và các con họp lại có cho ông K một phần đất khoảng 300m² hiện trạng nhà đang ở nhưng ông K không đồng ý nên ông Đ không đồng ý cho.
Bị đơn đơn phản tố yêu cầu nguyên đơn trả lại phần đất tranh chấp 1124,5m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 08/9/2022. Do ông M hứa cho ông K chỉ là lời nói, việc này chứng minh ông K ở nhờ năm 1994 trên phần đất này. Phần đất cho ông K ở nhờ không phải là đất lung, bào, hố bơm như ông K trình bày mà là đất đã được cải tạo. Theo nội dung của biên bản hòa giải lần 01 ngày 15/7/2022 tại UBND thị trấn N ông K trình bày năm 30 tuổi thì ông M mới cho ra riêng, xác định lại thời gian so với năm sinh của ông K là khoảng năm 1994.
Người đại diện theo ủy quyền của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Mỹ L, bà Huỳnh Thị Kim H, bà Huỳnh Thị Kim N có ông Huỳnh Chí L1 cùng trình bày: Thống nhất với lời trình bày của đại diện theo ủy quyền của bị đơn. Không thừa nhận có nhận 7.000.000 đồng từ ông K để trả nợ cho Hội cựu chiến binh. Ông M công tác tại UBND xã Đ cũ đến khoảng năm 1991, năm 1992 thì nghỉ, đến năm 2006 thì chết. Ông K có thời gian sống chung với cha mẹ ruột bà Huỳnh Thị T ( mẹ ông K) hỏi cưới cho ông K. Ngoài ông K thì anh em của ông K ông Sáu G, ông Tám L2 cũng có sống chung với ông M một thời gian.
Đề nghị tòa án buộc nguyên đơn Nguyễn Văn K trả lại đất cho bị đơn Huỳnh Văn Đ, lý do anh K có phần đất khác mua chuyển nhượng của ông Hồ Văn G1 diện tích khoảng 8000m². Đồng ý trả giá trị tài sản, công trình xây dựng, cây trồng trên đất theo kết quả thẩm định, định giá của công ty cổ phần Đ1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Anh Nguyễn Văn Quốc K3, bà Nguyễn Thị P trình bày: Thống nhất với phần trình bày của nguyên đơn ông Nguyễn Văn K, không trình bày gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sở N và đại diện theo ủy quyền của Sở trình bày: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành DG277847, số vào sổ cấp GCN: CS05017 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh H (ủy quyền cho Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H) ký ngày 08/09/2022 cấp cho ông Huỳnh Văn Đ, tại thửa 84, tờ bản đồ số 10, diện tích 1124,5m², mục đích sử dụng: Đất trồng cây hàng năm khác, địa chỉ đất tại ấp Đ, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Sở tài nguyên và môi trường tỉnh H thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định tại Điều 74, Điều 76 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP (được sửa đổi bổ sung tại khoản 24 Điều 1 Nghị định 148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của chính phủ) và Điều 85 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05.2014 của Chính phủ. Về thành phần hồ sơ thực hiện đúng theo quy định tại khoản 6, khoản 10 Điều 09 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT (được sửa đổi bổ sung tại khoản 1 Điều 2 Thông tư 09/2021/TT-BTNMT ngày 30/6/2021) và khoản 1 Điều 10 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2024 của Bộ trưởng Bộ T1 ngày 19/5/2024.
Về tranh chấp quyền sử dụng đất của các bên đương sự thì đại diện Sở T không có ý kiến, đề nghị Tòa án tuyên xử theo quy định, cơ quan có thẩm quyền sẽ thực hiện theo bản án có hiệu lực pháp luật.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 13 /2025/DS-ST, ngày: 18/7/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 14 – Cần Thơ tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Văn K về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với bị đơn Huỳnh Văn Đ.
Công nhận phần đất có diện tích 1.124,5 m² thuộc thửa 84 tờ bản đồ số 10 tại ấp Đ, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang (nay là ấp Đ, xã C, thành phố Cần Thơ) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành DG277847, số vào sổ cấp GCN: CS05017 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh H (cũ) ủy quyền cho Giám đốc văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H ký ngày 08/09/2022 cấp cho ông Huỳnh Văn Đ cho nguyên đơn ông Nguyễn Văn K. (có mãnh trích đo địa chính kèm theo)
Buộc Huỳnh Văn Đ có trách nhiệm giao bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DG277847, số vào sổ cấp GCN: CS05017 khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu để thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tranh chấp cho nguyên đơn. Nguyên đơn Nguyễn Văn K có quyền liên hệ với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục chỉnh lý cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng phần đất tranh chấp theo quy định. Đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chỉnh lý biến động cho nguyên đơn theo quyết định của bản án khi án có hiệu lực pháp luật.
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Huỳnh Văn Đ về việc yêu cầu nguyên đơn trả lại diện tích đất 1124,5 m² tại ấp Đ, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang (nay là xã C, thành phố Cần Thơ).
Tách yêu cầu đối với số tiền 7.000.000 đồng của ông Nguyễn Văn K thành vụ kiện khác khi có yêu cầu.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, Chi phí thẩm định, đo đạc, trích lục, định giá và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 30/7/2025 ông Huỳnh Văn Đ có đơn kháng cáo với nội dung yêu cầu sửa toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn liên quan đến phần đất thửa 84; Chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện ủy quyền của bị đơn sửa một phần nội dung kháng cáo thống nhất cho nguyên đơn diện tích 300m² phần đất còn lại buộc nguyên đơn trả cho bị đơn. Đại diện bị còn cho rằng, Tòa án cấp sơ thẩm chưa đánh giá khách quan các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án dẫn đến chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bác yêu cầu phản tố của bị đơn là chưa thuyết phục vì nguyên đơn không chứng minh được quá trình sử dụng từ năm 1992 vì năm 1993 ông M còn đăng ký quyền sử dụng đất và theo nội dung của biên bản hòa giải ngày 15/7/2022 tại UBND thị trấn N ông K trình bày năm 30 tuổi thì ông M mới cho ra riêng, xác định lại thời gian so với năm sinh của ông K là khoảng năm 1994 phần đất này không phải là đất lung, bào, hố bơm như ông K trình bày mà là đất đã được cải tạo. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn buộc ông K trả lại 824.5m².
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất theo kết quả đo đạc thực tế 1124,5m² đất cho nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Chí L1 và là đại diện ủy quyền của bà Võ Mỹ L, bà Huỳnh Thị Kim H, bà Huỳnh Thị Kim N thống nhất lời trình bày của đại diện ủy quyền ông Đ. Thống nhất cho ông K 300m² phần còn lại yêu cầu trả.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đại diện Sở nông nghiệp và môi trường thành phố C xác định cấp giấy từ ông M sang cho ông Đ là cấp đổi nên không phải đo đạc lại và cho rằng việc cấp giấy là đúng trình tự theo quy định của pháp luật. Đông thời Lê Văn Ú xác định việc bị đơn đồng ý cho nguyên đơn 300 m² loại đất BHK là không đủ diện tích tách thửa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu quan điểm về việc tuân thủ và chấp hành pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm. Đồng thời, phân tích đánh giá tính pháp lý các chứng cứ các đương sự cung cấp. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 BLTTDS năm 2015, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 13/2025/DS-ST, ngày 18/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14 - Cần Thơ theo hướng công nhận 300m² đất và phần còn lại công nhận buộc trả giá trị (có bài phát biểu kèm theo hồ sơ).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tại phiên tòa hôm nay các đương sự thống nhất phần đất tranh chấp theo đo đạc thực tế có tổng diện tích 1.124,5m², thuộc thửa 84 tờ bản đồ 10 theo mảnh trích đo địa chính của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ2 nguồn gốc là của ông Huỳnh Văn M, bà Võ Mỹ L và thống nhất kết quả định giá tại chứng thư thẩm định giá của Công ty cổ phần Đ1.
[2] Các đương sự thống nhất nguyên đơn là cháu gọi ông M bằng cậu và về sống chung cùng gia đình ông M, bà L và ông M có cho riêng một phần đất. Nguyên đơn cho rằng được cho toàn bộ diện tích tranh chấp 1.124,5m² theo mảnh trích đo; Còn bị đơn chỉ thừa nhận ông M cho khoảng 300m² và sau khi ông M chết họp gia đình nhưng ông K không chịu nên, ông Đ không đồng ý cho và phản tố đòi lại.
[3] Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn cho rằng, từ năm 1980 về ở chung với cậu mợ là ông M, bà L và phụ giúp cậu công việc nhà do các em còn nhỏ. Năm 1990 cậu M và mợ L cưới vợ cho và cũng sống chung tại nhà, khoảng 2 năm đến năm 1992 thì cậu cho ông phần đất 1 công tầm lớn (khoảng 1300m²), để ra ở riêng. Bị đơn thừa nhận ông M, bà L có cho nguyên đơn phần đất ra ở riêng, nhưng cho rằng cho khoảng năm 1994 chứ không phải năm 1992 như nguyên đơn trình bày; Đồng thời cho rằng diện tích ông K được cho khoảng 300m² chứ không phải 1300m² như nguyên đơn trình bày.
[4] Hội đồng xét xử nhận thấy giữa nguyên đơn và bị đơn trình bày không khớp nhau thời gian cho đất và diện tích đất được cho; Tuy nhiên các bên đều thống nhất đất gốc là của ông M, bà L và đều thừa nhận ông K có thời gian sống chung nhà và được ông M, bà L cho đất. Đây là chứng cứ để Hội đồng xét xử làm căn cứ đối chiếu các chứng cứ khác nhằm đánh giá khách quan nội dung vụ án.
[4.1] Xét diện tích đất được cho: Căn cứ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông M và sau khi ông M chết năm 2006 thì phần đất là một thửa độc lập. Căn cứ vào biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và thừa nhận của các đương sự là trên phần đất có nhiều công trình như: Nhà chính, mái che phía trước, sàn nước, mái sàn nước, nhà vệ sinh, mái tre sau nhà, cây nước, nhiều loại cây trồng lâu năm và hàng rào bao phủ toàn bộ phần đất tranh chấp đều là công trình, cây trồng của ông K. Như vậy, cho thấy ông K đã sử dụng toàn bộ phần đất chứ không phải chỉ có diện tích khoảng 300m² theo như bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày.
[4.2] Chứng cứ nêu trên còn chứng minh từ khi ông M còn sống cho đến khi ông M chết các đương sự ổn định không tranh chấp, cho đến khi ông Đ được bà L và hàng thừa kế của ông M tặng cho và nhượng quyền thừa kế chuyển đổi từ ông M qua ông Đ thì mới phát sinh chấp. Thực tế phát sinh tranh chấp là vì ông Đ đứng tên nhưng thực tế là ông K là người đã sử dụng, đang canh tác từ trước đó.
[4.3] Việc ông Đ đăng ký đứng tên quyền sử dụng đất cũng không được người sử dụng đất trực tiếp ký cho đến khi ông Đ, bà H, ông L1, bà N và bà L ký giấy cho đất lập ngày 01/6/2022, thì việc chuyển đổi với tên của ông Đ mới hoàn tất; Tuy nhiên do giấy không để rõ diện tích nên bị đơn cho rằng chỉ cho không, rồi sau đó nói cho khoảng 200m² quá trình giải quyết vụ án và tại tòa phúc thẩm cho 300m² lời khai không thống nhất và không được nguyên đơn thừa nhận; Bị đơn không đưa ra được chứng cứ chứng minh chỉ tặng cho 200m² hoặc 300m², nên không có căn cứ xem xét. Trong khi đó, như nhận định tại [4.1], [4.2], [4.3] các căn cứ nguyên đơn được cho toàn bộ phần đất và ổn định canh tác.
[5] Như nhận định tại [4] thì phần đất nguyên đơn sử dụng còn được chứng minh phù hợp với các chứng cứ như tờ khai nộp thuế, thừa nhận của những người canh tác sử dụng đất liền kề xác định thời gian sử dụng phần đất tranh chấp của ông K đã ổn định lâu dài, nên cấp sơ thẩm xác định nguyên đơn có thời gian sử dụng ổn định lâu dài và là căn cứ xác định nguyên đơn đã được ông M lúc còn sống cùng bà L cho phần đất này là có căn cứ. Do có căn cứ xác định toàn bộ phần đất đã được tặng cho và ông K đã sử dụng ổn định lâu dài đầu tư xây dựng công trình nhà ở, cây trồng lâu năm và làm hàng rào bao phủ, nên mâu thuẫn về thời gian cho đất từ năm 1992 hay 1994 là không làm thay đổi nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Từ nhận định trên không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn Huỳnh Văn Đ; Không có căn cứ chấp nhận ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên về đề nghị chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn công nhận hợp đồng tặng cho 300m²; Phần còn lại ổn định cho nguyên đơn sử dụng và buộc nguyên đơn trả giá trị cho bị đơn. Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn ông Huỳnh Văn Đ.
- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST, ngày 18/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Buộc bị đơn ông Huỳnh Văn Đ phải chịu 300.000₫ (ba trăm ngàn đồng). Chuyển 300.000đ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm số 0001686 ngày 04 tháng 8 năm 2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ thành án phí.
- Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án, ngày 23/12/2025.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Hoàng Khải |
Bản án số 745/2025/DS-PT ngày 23/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 745/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
