Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 745/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27/6/2025

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tố Nguyên

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Huỳnh Văn Đẹp.
  2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm.

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hiếu Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Tuyết Mai – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 152/2025/TLST – HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 241/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 199/2025/QÐST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng Đ, sinh ngày 27/8/1994 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: 1 ấp T (địa chỉ mới ấp B), xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh

Bị đơn: Ông Lê Văn Q, sinh ngày 30/01/1995 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số nhà H ấp D (địa chỉ mới ấp B), xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/02/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Hồng Đ trình bày:

Bà Nguyễn Thị Hồng Đ và ông Lê Văn Q kết hôn với nhau từ năm 2021 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 71 ngày 21/12/2021. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, khoảng năm 2021 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng hay cãi vã, cuộc sống chung không hạnh phúc. Nguyên nhân do ông Q thường xuyên xúc phạm, xem thường gia đình bà Đ. Ông Q không cùng bà Đ chăm lo cho cuộc sống gia đình. Vì vậy vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân của vợ chồng rất ngột ngạt. Vợ chồng bà và gia đình hai bên cùng nhau hòa giải nhiều lần đều không thành. Cuộc sống chung không hòa hợp, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nữa. Do đó, bà Đ yêu cầu được ly hôn với ông Lê Văn Q.

- Về con chung: Bà Đ và ông Q có 01 con chung là Lê Nguyễn Hoài T, sinh ngày 29/12/2021. Bà Đ yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung và không yêu cầu ông Lê Văn Q cấp dưỡng nuôi con.

- Về nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là ông Lê Văn Q đã được Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng ông Q vắng mặt tại các buổi hòa giải, phiên họp và phiên tòa xét xử sơ thẩm mà không có lý do. Ông Q cũng không có văn bản trình bày ý kiến nộp cho Tòa án.

Tại phiên toà:

Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Hồng Đ có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn là ông Lê Văn Q đã được Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu ý kiến như sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật “tranh chấp ly hôn” là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn ông Lê Văn Q có nơi cư trú tại xã X, huyện H nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Sau khi thụ lý, Tòa án ban hành thông báo thụ lý, thông báo cho bị đơn, Viện kiểm sát theo quy định tại Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về việc tiến hành lập hồ sơ vụ án, hòa giải, gửi Quyết định đưa vụ án ra xét xử đến Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, tiến hành triệu tập và tống đạt các văn bản của Tòa án đúng quy định. Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử và gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn theo quy định tại Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Về thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án thụ lý vụ án ngày 18/02/2015, đến ngày 21/5/2025 ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án tranh chấp ly hôn và bị đơn cư trú tại số H ấp D, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về tố tụng: Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Hồng Đ có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn là ông Lê Văn Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

[3.1] Về quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Hồng Đ và ông Lê Văn Q

Bà Nguyễn Thị Hồng Đ và ông Lê Văn Q kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 71 ngày 21/12/2021. Do đó có đủ căn cứ xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Hồng Đ và ông Lê Văn Q là hợp pháp.

Theo lời trình bày của bà Đ thì sau khi kết hôn vợ chồng ông bà chung sống hạnh phúc. Đến đầu năm 2021, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do ông Q thường xuyên xúc phạm, xem thường gia đình bà. Ông Q không cùng bà chăm lo cho cuộc sống gia đình. Vì vậy vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân của vợ chồng rất ngột ngạt. Vợ chồng bà và gia đình hai bên cùng nhau hòa giải nhiều lần đều không thành. Cuộc sống chung không hòa hợp, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nữa nên bà xin được ly hôn với ông Q.

Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông Lê Văn Q đến trụ sở Tòa án để giải quyết vụ án, nhưng ông Q vắng mặt không lý do. Khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Như vậy, ông Q đã từ bỏ quyền chứng minh của mình, không đến Tòa án để tham gia giải quyết vụ kiện. Hội đồng xét xử căn cứ vào lời khai của bà Đ và những tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ để làm cơ sở giải quyết vụ án. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Đ và ông Q đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà Đ xin được ly hôn với ông Q là có cơ sở chấp nhận.

[3.2] Về con chung: Trong quá trình chung sống bà Đ và ông Q có 01 con chung tên Lê Nguyễn Hoài T, sinh ngày 29/12/2021. Nay bà Đ yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con

Hội đồng xét xử xét thấy hiện tại trẻ T đang sống chung ổn định với mẹ nên việc giao con cho bà Đ trực tiếp nuôi dưỡng đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của trẻ phù hợp quy định của Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên yêu cầu nuôi con của bà Đ là có cơ sở chấp nhận. Ghi nhận việc bà Đ tự nguyện không yêu cầu ông Q thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

[3.3] Về tài sản chung: Bà Đ xác nhận không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[3.4] Về nợ chung: Bà Đ xác nhận không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Hồng Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng.

[5] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 7a, 9, 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng Đ:
    1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng Đ được ly hôn với ông Lê Văn Q.
    2. Về con chung: Giao con chung Lê Nguyễn Hoài T, sinh ngày 29/12/2021 cho bà Nguyễn Thị Hồng Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau ly hôn. Ghi nhận việc bà Đ tự nguyện không yêu cầu ông Q thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

      Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên.

      Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống với người trực tiếp nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trong trường hợp lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Điều 86 Luật Hôn nhân và Gia đình có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chưa thành niên của người không trực tiếp nuôi con.

      Vì quyền lợi của con, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

    3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Hồng Đ xác nhận không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
    4. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Hồng Đ xác nhận không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Hồng Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0081576 ngày 18 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh; Bà Nguyễn Thị Hồng Đ đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  4. Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận :

  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND H. Hóc Môn, TP.HCM;
  • - Chi cục THADS H. Hóc Môn;
  • - UBND xã Xuân Thới Sơn, huyện Hóc Môn, TPHCM (GCN kết hôn số 71, ngày 21/12/2021)
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Tố Nguyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 745/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 745/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cho ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger