Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 745/2024/HS-PT

Ngày 27-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khương

Các Thẩm phán:

  • Ông Dương Tuấn Vinh
  • Ông Phan Nhựt Bình

- Thư ký phiên tòa: Ông Thân Văn Nhường - Thư ký Tòa án nhân dân cấp

cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lưu động phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 429/2024/TLPT-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thanh C, do có kháng cáo của gia đình người bị hại đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số: 15/2024/HS-ST ngày 25-3-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 763/2024/QĐXXPT-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024.

- Bị cáo bị kháng cáo:

Nguyễn Thanh C

sinh năm 1987 tại tỉnh An Giang.

Nơi thường trú: Ấp Đ, xã V, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Ca Thị Ả (đã chết); bị cáo có vợ là chị Nguyễn Thị Hồng G và 01 con; tiền án; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10/10/2021 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Bị hại Ca Thị S, sinh năm 1975 (đã chết)

Đại diện hợp pháp của bị hại Ca Thị S: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1976; nơi cư trú: Ấp Đ, xã V, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

2. Bị hại Ca Văn T, sinh năm 1952 (đã chết)

Đại diện hợp pháp của bị hại Ca Văn T:

  • + Bà Ca Thị Kim T1, sinh năm 1977; nơi cư trú: Ấp T, xã V, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
  • + Bà Ca Thị M, sinh năm 1986; nơi cư trú: Khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).
  • + Bà Ca Thị Kim T2, sinh năm 1990 (có mặt).
  • + Ông Ca Văn H, sinh năm 1993 (có mặt).
  • + Bà Ca Thị Kim P, sinh năm 1984 (có mặt).

Cùng nơi cư trú: ấp Đ, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.

3. Bị hại Nguyễn Văn H1, sinh năm 1985.

Nơi cư trú: ấp Đ, xã V, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Kim H2, sinh năm 1972; nơi cư trú: Áp Đ, xã V, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

- Người bào chữa theo chỉ định cho bị cáo Nguyễn Thanh C: Luật sư Thái Thị Diễm T3, thuộc Đoàn luật sư tỉnh A (có mặt).

- Người bảo vệ quyền lợi cho bị hại: Luật sư Phạm Thái B1, thuộc Đoàn luật sư tỉnh A (có mặt).

- Người kháng cáo: Các đại diện hợp pháp của bị hại Ca Thị S và đại diện hợp pháp của bị hại Ca Văn T kháng cáo.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 10/10/2021, Nguyễn Thanh C (có biểu hiện bệnh lý tâm thần) lấy cây xăm gạo (dùng để kiểm tra chất lượng gạo), lưỡi bằng kim loại dài 26cm, cán bằng nhựa màu đen dài 10cm cầm trên tay đi bộ đến nhà Ca Thị Kim S1, thấy S1 đang ngồi giặt quần áo trước nhà, C đi đến cầm cây xăm gạo đâm nhiều nhát vào vùng ngực, lưng và tay trái làm S1 chết ngay tại chỗ. Xong, C tiếp tục cầm cây xăm gạo đi bộ khoảng 100m thấy Nguyễn Văn H1 đang ngồi câu cá, C đi đến đâm nhiều nhát vào người làm H1 té xuống kênh. Sau đó, C đi bộ quay trở lại hướng nhà chị S1, thấy ông Ca Văn T (cha của S1) đang ngồi kế bên tử thi của S1 nên đi đến, tiếp tục cầm cây xăm gạo đâm nhiều nhát vào người ông T, được các anh Nguyễn Thanh H3, Nguyễn Thanh H4 và Nguyễn Thanh T4 (anh ruột của C) chạy đến can ngăn, giật lấy hung khí, bắt giữ C giao Công an xã V xử lý. Riêng, T, H1 được đưa đến Bệnh viện Đ cấp cứu, điều trị. Đến khoảng 03 giờ 30 phút ngày 11/10/2021, ông T chết, còn ông H1 được điều trị đến ngày 20/10/2021 xuất viện.

Ngày 11/10/2021, C bị khởi tố điều tra. Sau khi bị khởi tố, C có bệnh lý tâm thần mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, nên được tạm đình chỉ điều tra và bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Ngày 10/11/2023, C khỏi bệnh và bị phục hồi điều tra.

* Bản kết luận giám định số 140/KL GT-PC09(PYTT) và số 141/KL GT-PC09(PYTT) ngày 12/10/2021 của Phòng K - Công an tỉnh A, kết luận, như sau:

- Đối với bị hại Ca Thị S1: Vết thương ngực phải (03 vết) xuyên thấu ngực gây bầm tụ máu dưới da, cơ bên phải; thủng gian sườn 3-4, 4-5 bên phải, thủng thùy giữa phổi phải và thủng mặt trước tâm thất phải; Vết thương vùng ngực trái (02 vết) xuyên thấu ngực gây bầm tụ máu dưới da, cơ vùng ngực trái; thủng gian sườn 4-5, 5-6 bên trái, thủng thùy trên và thùy dưới phổi trái; Vết thương vùng thượng vị gây bầm tụ máu dưới da, cơ; thủng mặt trước gan phải. Nguyên nhân chết: Suy tuần hoàn cấp do vết thương gây thủng phổi, tim, gan. Cơ chế hình thành dấu vết thương tích: Các vết thương trên cơ thể của nạn nhân có đặc điểm phù hợp đặc điểm tổn thương do vật nhọn tạo nên.

- Đối với bị hại Ca Văn T: Các vết thương vùng ngực gây thủng thùy dưới phổi phải, thủng mặt trước thùy trên phổi trái, thủng cơ hoành bên trái và thủng bờ cong nhỏ dạ dày. Căn cứ bệnh án ngoại khoa sổ vào viện 21045863 của Bệnh viện Đ, ghi nhận tình trạng: Tràn máu màng phổi phải đã phẫu thuật đặt dẫn lưu tại khoang liên sườn 5-6 đường nách giữa bên phải; Tràn khí màng phổi trái đã phẫu thuật đặt dẫn lưu tại khoang liên sườn 4-5 đường trung đòn bên trái. Nguyên nhân chết: Suy tuần hoàn cấp không hồi phục do vết thương gây thủng phổi, thủng dạ dày. Cơ chế hình thành dấu vết thương tích: Các vết thương trên cơ thể của nạn nhân có đặc điểm phù hợp đặc điểm tổn thương do vật nhọn tạo nên.

* Kết luận giám định pháp y về thương tích số 436/21/TgT ngày 20/11/2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh A, kết luận đối với Nguyễn Văn H1,như sau: Sẹo lưng phải, kích thước (1,5 x 0,2)cm, bờ sắc: Thấu bụng thủng gan phải, đã tự cầm máu; Vỡ hồi tràng 01 lổ: Do chấn thương bụng kín gây nên; Sẹo giữa lưng kích thước (1,2 x 0,2)cm, bờ sắc; Sẹo lưng trái, kích thước (1,5 x 0,3)cm, bờ sắc: Thấu ngực tràn máu - tràn khí màng phổi trái; Gãy xương sườn số III bên trái, điều trị bảo tồn; Sẹo mặt trong đốt 1 ngón V đến kẽ ngón IV – V bàn tay phải, kích thước (2,5 x 0,2)cm: Gãy dạng đứt dọc xương bàn ngón V bàn tay phải. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên hiện tại là 50%. Kết luận khác: Thương tích do vật nhọn và chấn thương bụng kín gây nên. Thương tích gây cố tật.

* Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 205/2021/KLGĐ ngày 19/11/2021 và Công văn số 205.0/PYTT ngày 19/11/2021 của Trung tâm P1, kết luận đối với Nguyễn Thanh C: Về y học: Trước khi phạm tội đương sự không có bệnh lý tâm thần; Trong khi phạm tội đương sự có bệnh lý tâm thần nhiễm độc cấp do sử dụng rượu (F10.0 – ICD10); Sau khi phạm tội và hiện tại: Đương sự có bệnh lý tâm thần: Rối loạn phân ly, giai đoạn bệnh tiến triển (F44 – ICD10); Về năng lực: Tại thời điểm phạm tội: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; Hiện tại: Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; Về trách nhiệm hình sự: Tại thời điểm phạm tội: Đương sự có năng lực trách nhiệm hình sự; Hiện tại: Đương sự không có năng lực trách nhiệm hình sự.

* Kết luận giám định pháp y tâm thần sau thời gian điều trị bắt buộc số 819/KLBB-VPYTW ngày 10/11/2023 và Công văn số 04/PYTT ngày 11/01/2024 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương B2, kết luận đối với Nguyễn Thanh C: Bị bệnh: Rối loạn phân ly, giai đoạn bệnh tiến triển (F44 – ICD.10); Hiện tại bệnh đã ổn định, không cần thiết điều trị bắt buộc nữa. Đương sự có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật; Tình trạng bệnh lý của bệnh nhân trong và sau thời gian điều trị bệnh có khả năng bị mất một phần ký ức đã được tồn tại trước khi đưa vào cơ sở điều trị bệnh bắt buộc. Cụ thể, sau khi sử dụng rượu với số lượng nhiều bệnh nhân sẽ có biểu hiện hạn chế hoặc mất kiểm soát hành vi và cảm xúc của mình, kèm theo có thể mất trí nhớ về một khoảng thời gian trong lúc sử dụng quá nhiều rượu bia dẫn đến bị ngộ độc rượu bia. Đương sự sẽ không nhớ lại được, không hồi phục được diễn tiến vụ việc đã xảy ra vào thời điểm đó cho đến sau này.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 15/2024/HS-ST ngày 25-3-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, đã tuyên xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh C phạm tội “Giết người”.

Căn cứ điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 39 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh C tù chung thân. Thời hạn tù được tính từ ngày 10/10/2021.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định bồi thường dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 05/4/2024, ông Nguyễn Văn L là chồng của bị hại Ca Thị S1 kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo từ chung thân lên tử hình và kháng cáo về bồi thường dân sự.

Ngày 05/4/2024, bà Ca Thị Kim T1, bà Ca Thị M, bà Ca Thị Kim T2, ông Ca Văn H, bà Ca Thị Kim P là con ruột của bị hại Ca Văn T kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo từ chung thân lên tử hình và kháng cáo về bồi thường dân sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện của bị hại có kháng cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo tăng hình phạt đối với bị cáo C. Nhưng xin rút kháng cáo về phần bồi thường dân sự.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh: Bị cáo dùng hung khí giết nhiều người, nhưng do tại thời điểm phạm tội bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do sử dụng rượu. Do đó, Tòa án sơ thẩm xử phạt bị cáo tù chung thân là phù hợp, không nhẹ. Nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo đề nghị tăng hình phạt của người đại diện hợp pháp của bị hại. Chấp nhận việc người đại diện hợp pháp của bị hại xin rút kháng cáo về bồi thường dân sự, giữ nguyên hình phạt như bản án sơ thẩm đã tuyên.

Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo C: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tại thời điểm phạm tội bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do rượu, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo tăng hình phạt của người đại diện hợp pháp của bị hại, giữ nguyên hình phạt như bản án sơ thẩm đã tuyên.

Quan điểm của Luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị hại: Bị cáo thực hiện hành vi rất côn đồ, manh động, một lúc giết 02 người. Còn làm một người bị trọng thương, không chết là ngoài ý muốn của bị cáo. Hậu quả bị cáo gây ra là đặc biệt nghiêm trọng, thực hiện hành vi do bị say rượu không phải là tình tiết giảm nhẹ. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo đề nghị tăng hình phạt của người đại diện hợp pháp của bị hại, xử phạt tử hình đối với bị cáo. Đề nghị chấp nhận việc người đại diện hợp pháp của bị hại xin rút kháng cáo về bồi thường dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

* Về thủ tục tố tụng:

[1]. Xét, tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện của bị hại có kháng cáo xin rút một phần kháng cáo về phần bồi thường dân sự, là không liên quan đến kháng cáo khác, nên được chấp nhận. Căn cứ khoản 3 Điều 342 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo đã rút nêu trên.

[2]. Xét kháng cáo của người đại diện của bị hại yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo, là trong hạn luật định, hợp lệ nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

* Về nội dung:

[3]. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: Từ khi phạm tội đến trước khi mở phiên tòa sơ thẩm bị cáo không nhớ gì. Nhưng tại phiên tòa sơ thẩm sau khi nghe lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng trình bày, bị cáo đã nhớ lại và thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã kết luận.

[4]. Xét, lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa cấp sơ thẩm và lời khai nhận tại phiên tòa cấp phúc thẩm là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại Nguyễn Văn H1 và người làm chứng anh Nguyễn Thanh H3, Nguyễn Thanh H4 và Nguyễn Thanh T4 (anh ruột của bị cáo C), phù hợp với kết quả khám nghiệm tử thi, các kết luận giám định pháp y và tang vật đã thu giữ được. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh C phạm tội “Giết người” là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[5]. Xét tính chất của hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra cho xã hội, nhận thấy: Bị cáo với người bị hại không có mâu thuẫn gì với nhau nhưng sau khi uống rượu bị cáo đã sử dụng hung khí, lạnh lùng đâm nhiều nhát vào vùng ngực, lưng làm bà S1 gục chết tại chỗ. Bị cáo tiếp tục đi bộ khoảng 100m thấy ông Nguyễn Văn

H1 đang ngồi câu cá, bị cáo đi đến đâm nhiều nhát vào người làm ông H1 té ngã xuống kênh may mắn thoát thân. Sau đó, bị cáo quay lại nơi bà S1 bị bị cáo đâm chết, thấy ông Ca Văn T (cha của bà S1) đang ngồi ôm xác bà S1 khóc than nhưng bị cáo vẫn tiếp tục cầm cây xăm gạo đâm nhiều nhát vào người ông T làm ông gục chết tại chỗ. Khi được mọi người ngăn cản thì bị cáo mới chịu dừng lại. Hậu quả bị cáo đã giết chết 02 người là bị hại T và bị hại S1 và gây trọng thương cho bị hại H1 với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 50%. Việc bị hại H1 không bị tử vong là do được cấp cứu kịp thời, ông H1 không chết là ngoài sự mong muốn của bị cáo.

[6]. Xét thấy, hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, thể hiện rất manh động và rất côn đồ; bị cáo phạm tội có 02 tình tiết tăng nặng định khung: “giết 02 người trở lên”, “có tính chất côn đồ” theo điểm a, n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự, nên cần thiết phải xử phạt bị cáo hình phạt nghiêm minh, loại bỏ vĩnh viễn bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[7]. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nhân thân tốt; chưa tiền án, tiền sự; được bị hại Nguyễn Văn H1 xin giảm nhẹ hình phạt. Riêng đối với tình tiết “tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả”, bị cáo tác động gia đình bồi thường cho gia đình các bị hại chỉ có 25.000.000 đồng là không đáng kể so với số tiền bị cáo còn phải bồi thường (421.000.000 đồng).

[8]. Theo Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 205/2021/KLGĐ ngày 19/11/2021 và Công văn số 205.0/PYTT ngày 19/11/2021 của Trung tâm P1, kết luận đối với Nguyễn Thanh C: trước khi phạm tội, bị cáo không có bệnh lý tâm thần; trong khi phạm tội bị cáo có bệnh lý tâm thần nhiễm độc cấp do sử dụng rượu nên bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do rượu.

[9]. Xét thấy, bị cáo là người thường sử dụng rượu, bia; bị cáo biết rõ triệu chứng của mình sau khi uống rượu, bia, bị cáo sẽ không làm chủ được hành vi, nhưng bị cáo vẫn cố tình sử dụng rượu, bia để tự đặt mình vào tình trạng bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi dẫn đến thực hiện hành vi phạm tội giết người. Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, đối với người phạm tội trong tình trạng hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, đây không được xem là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Nhưng việc Tòa án cấp sơ thẩm quá nhấn mạnh tình tiết “khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”, xem đây như 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đặc biệt áp dụng cho bị cáo được hưởng, để xử phạt bị cáo hình phạt tù chung thân là chưa tương xứng với tính chất của hành vi và hậu quả bị cáo gây ra cho gia đình các bị hại. Do đó, kháng cáo của người đại diện cho gia đình người bị hại yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo từ hình phạt chung thân lên tử hình là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10]. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị chấp nhận người đại diện hợp pháp của người bị hại xin rút kháng cáo về bồi thường dân sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo đã rút, là có căn cứ chấp nhận.

[11]. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và Luật sư bào chữa cho bị cáo C đề nghị không chấp nhận kháng cáo đề nghị tăng hình phạt của người đại diện hợp pháp của bị hại là không có căn cứ chấp nhận.

[12]. Luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị hại đề nghị chấp nhận kháng cáo đề nghị tăng hình phạt của người đại diện hợp pháp của bị hại là có căn cứ chấp nhận.

[13]. Án phí hình sự phúc thẩm: Người đại diện hợp pháp của các bị hại có kháng cáo không phải chịu.

[14]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b, đ khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận yêu cầu của người đại diện của bị hại xin rút một phần kháng cáo về bồi thường dân sự.

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo về bồi thường dân sự của ông Nguyễn Văn L, bà Ca Thị Kim T1, bà Ca Thị M, bà Ca Thị Kim T2, ông Ca Văn H, bà Ca Thị Kim P.

Chấp nhận kháng cáo yêu cầu tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thanh C của ông Nguyễn Văn L; bà Ca Thị Kim T1, bà Ca Thị M, bà Ca Thị Kim T2, ông Ca Văn H, bà Ca Thị Kim P.

Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số: 15/2024/HS-ST ngày 25-3-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh C phạm tội “Giết người”.

Áp dụng điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 40 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh C tử hình. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

3. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày tuyên án phúc thẩm, người bị kết án được gửi đơn xin ân giảm hình phạt tử hình lên Chủ tịch nước.

4. Án phí hình sự phúc thẩm: Người đại diện hợp pháp của các bị hại không phải chịu.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TANDTC;
  • - VKSNDCC tại TP.HCM;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Cục THADS tỉnh An Giang;
  • - Công an tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh An Giang;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS, VT, ĐTTB.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Khương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 745/2024/HS-PT ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (giết người)

  • Số bản án: 745/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh C phạm tội "Giết người" theo điểm a, n khoản 1 Điều 123 BLHS 2015
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger