TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 745/2023/HC-PT Ngày: 28 - 8 - 2023 V/v khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết
Các Thẩm phán: Ông Cao Văn Tám
Bà Lê Thúy Cầu
- Thư ký phiên tòa: Ông Thới Ngọc Bắc - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án thụ lý số 246/2023/TLPT-HC ngày 10 tháng 4 năm 2023 về “Khiếu kiện Quyết định giải quyết khiếu nại; Quyết định bồi thường, hỗ trợ và buộc thực hiện hành vi bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất”
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 162/2022/HC-ST ngày 28 tháng 10 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3876/2023/QĐ-PT ngày 02 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Ông Phạm Thiện N, sinh năm 1966; Nơi cư trú: Tổ D, Khu phố B, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền cho ông Phạm Thiện N: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Số B tầng A N, khu phố E, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Người bị kiện:
2.1. Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Quang H1, chức vụ: Chủ tịch
2.2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo ủy quyền: có ông Nguyễn Lê Quốc T – Phó chủ tịch (có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện: Ông Trần Quang L – Phó phòng Phòng T1 (có mặt).
Địa chỉ: Số D đường C, khu phố B, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
3. Người kháng cáo: Người khởi kiện ông Phạm Thiện N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện ông Phạm Thiện N và người đại diện theo ủy quyền bà Nguyễn Thị Thu H trình bày:
Năm 2012, ông Phạm Thiện N có nhận chuyển nhượng của ông Trương Đăng K thửa đất diện tích 733m² tại ấp E, xã H, huyện P (nay là khu phố H, phường A, thành phố P), tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 961331 do UBND thành phố P cấp ngày 18/12/2012.
Sau khi nhận chuyển nhượng, ông N lập trang trại ươm giống và nuôi ốc hương trên thửa đất nêu trên và đăng ký thanh lập Doanh nghiệp Tư nhân N3 theo Giấy đăng ký doanh nghiệp do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Kiên Giang cấp ngày 19/8/2015.
Ngày 30/12/2016 UBND thành phố P ban hành Quyết định số 8577/QĐ-UBND thu hồi diện tích 733m² của ông N và Quyết định số 8313/QĐ-UBND phê duyệt phương án bồi thường, hộ trợ và tái định dư dự án Cáp treo và quần thể vui chơi giải trí biển H - P, tại phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
Ngày 18/01/2017 UBND thành phố P ban hành Quyết định số 531/QĐ-UBND bồi thường, hỗ trợ cho ông N tổng số tiền là 2.763.668.300 đồng, cụ thể:
Đất đai: 183.250.000 đồng; hoa màu 1.070.000 đồng, vật kiến trúc 2.574.348.300 đồng, hỗ trợ di chuyển 5.000.000 đồng.
Không đồng ý với việc bồi thường, hỗ trợ ông N khiếu nại đến Chủ tịch UBND thành phố P với nội dung: Yêu cầu hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm diện tích 733m²; yêu cầu nâng giá bồi thường đất diện tích 733m² với giá 2.000.000 đồng/m²; yêu cầu nâng giá bồi thường vật kiến trúc là nhà nuôi ốc hương diện tích 504m² và yêu cầu lập phương án bồi thường bổ sung vật kiến trúc là nhà nuôi ốc hương diện tích 44,25m² và hạng mục mái che diện tích 8,85m².
Ngày 17/8/2020 Chủ tịch UBND thành phố P ban hành Quyết định số 4436/QĐ-UBND giải quyết khiếu nại với nội dung: Không chấp nhận yêu cầu nâng giá bồi thường đất là 2.000.000 đồng/m²; thống nhất lập phương án hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm diện tích 733m²; thống nhất điều chỉnh giá bồi thường hạng mục nhà nuôi trồng ốc hương diện tích 504m³; thống nhất
lập phương án bồi thường nhà nuôi trồng ốc hương diện tích 44,25m² và hạng mục mái che diện tích 8,85m² theo Chứng thư định giá số 56/2018/CT-BĐS/MIVC ngày 27/9/2018 của Công ty Thẩm định giá và tư vấn đầu tư Miền T.
Ngày 30/10/2020 UBND thành phố P ban hành Quyết định số 6141/QĐ-UBND bồi thường bổ sung vật kiến trúc 284.432.313 đồng và hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm 659.700.000 đồng cho ông N.
Tổng cộng số tiền bồi thường, hỗ trợ mà ông N nhận theo Quyết định số 531/QĐ-UBND và Quyết định số 6141/QĐ-UBND là 3.707.800.613 đồng. Ông N cho rằng số tiền bồi thường, hỗ trợ là chưa thỏa đáng và xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông N vì:
- Thứ nhất, về số tiền bồi thường về đất đai:
Thửa đất diện tích 733m² được UBND thành phố P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 961331 ngày 18/12/2012 cho ông Trương Đăng K, sau đó đăng ký biến động sang tên ông Phạm Thiện N1. Căn cứ khoản 2 Điều 74 Luật Đất đai và Điều 112 Luật Đất đai quy định về nguyên tắc, phương pháp định giá đất; khoản 3, 4 Điều 114 Luật Đất đai quy định về bảng giá đất và giá đất cụ thể; Điều 4 Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về giá đất thì việc xác định giá đất cụ thể bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội phải phù hợp với giá phổ biến trên thị trường của loại đất đã thu hồi của ông N.
UBND thành phố P căn cứ Bảng giá đất theo Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND của UBND tỉnh K để làm căn cứ tính giá bồi thường cho ông N với đơn giá là 250.000 đồng/m² là trái quy định tại khoản 3, 4 Điều 114 Luật Đất đai. Vì thực tế phần đất này của ông N có giá trị là 1.466.000.000 đồng, đơn giá là 2.000.000 đồng/m2 tại thời điểm bồi thường năm 2017.
Do đó, ông N yêu cầu UBND thành phố P bồi thường bổ sung cho ông N theo đơn giá tạm tính thời điểm năm 2021 là 3.000.000 đồng/m² x 733m² = 2.199.000.000 đồng.
Như vậy, số tiền bồi thường về đất mà Nhà nước quy định ông N được hưởng tạm tính thời điểm 2021 mà UBND thành phố P phải bổ sung cho ông N là 2.199.000.000 đồng – 183.250.000 đồng = 2.015.750.000 đồng.
- Thứ hai đối với việc chuyển đổi nghề và tiềm kiếm việc làm:
Phần diện tích đất bị thu hồi được ông N xây dựng trang trái ươm giống và nuôi ốc hương. Khi thu hồi đất chỉ hỗ trợ cho ông N theo Quyết định số 6141/QĐ-UBND với số tiền 659.700.00 đồng là không phù hợp. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 20 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 thì ông N được hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm gấp 5 lần theo bảng giá đất nông nghiệp cùng loại là 250.000 đồng/m² x 5 x 733m² = 916.250.000 đồng.
Do đó, ông N yêu cầu UBND thành phố P bổ sung tiền hỗ trợ cho ông N là 300.000 đồng/m² x 733m² = 1.099.500.000 đồng.
Như vậy, số tiền hỗ trợ về đất mà Nhà nước quy định ông N được hưởng tạm tính tại thời điểm năm 2021 mà UBND thành phố P phải bổ sung cho ông N là 1.099.500.000 đồng – 659.700.000 đồng = 439.800.000 đồng.
- Thứ ba, đối với việc bồi thường vật kiến trúc:
Căn cứ theo Công văn số 1263/SXD-QLN ngày 14/9/2017 của Sở Xây dựng tỉnh K xác định khu vự dự án Cáp treo và quần thể vui chơi giải trí biển H - P thì điều chỉnh hệ số từ K=1.1 thành K=1.4. Tuy nhiên, tại Chứng thư định giá bồi thường 03 vật kiến trúc bao gồm 2 nhà nuôi ốc hương, 1 mái che thì Công ty Đ chỉ áp dụng hệ số 1.1 khi tính giá bồi thường vật kiến trúc cho ông N.
Thời điểm xây dựng 02 căn nhà nuôi ốc hương, 1 mái che nêu trên là vào năm 2012. Đến năm 2016 thì bị thu hồi để thực hiện dự án. Như vậy, thời gian sử dụng các vật kiến trúc là 4 năm tính đến thời điểm sử dụng đất, giá trị còn lại của 2 căn nhà phải trên 80%. Tuy nhiên đến tháng 9/2018, Công ty mới tiến hành định giá tài sản và xác định thời hạn sử dụng của 03 vật kiến trúc là 6 năm, chứng thư xác định giá trị còn lại 2 căn nhà là 70% dẫn đến giá trị bồi thường 2 căn nhà nuôi ốc hương của ông N thấp hơn so với thực tế.
Do đó, ông N yêu cầu nâng mức bồi thường vật kiến trúc cho ông N tại Chứng thư định giá từ hệ số K=1.1 thành K=1.4 và điều chỉnh tỷ lệ % giá trị còn lại của 2 căn nhà nuôi ốc hương lên 80%.
Như vậy, UBND thành phố P phải bổ sung bồi thường vật kiến trúc cho ông N số tiền là 1.659.738.540 đồng – 1.141.466.113 đồng = 518.272.427 đồng.
Nay, ông N yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Hủy Quyết định số 4436/QĐ-UBND ngày 17/8/2020 của Chủ tịch UBND thành phố P về việc giải quyết khiếu nại.
- - Hủy Quyết định số 531/QĐ-UBND ngày 18/01/2017 của UBND thành phố P về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án Cáp treo và quần thể vui chơi giải trí biển H - P tại thị trấn A, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
- - Hủy Quyết định số 6141/QĐ-UBND ngày 30/10/2020 của UBND thành phố P về việc bổ sung bồi thường vật kiến trúc, hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho ông Phạm Thiện N.
- - Buộc UBND thành phố P nâng giá bồi thường quyền sử dụng đất cho ông Phạm Thiện N tạm tính tại thời điểm năm 2021 với đơn giá 3.000.000 đồng/m², số tiền 2.015.750.000 đồng đối với thửa đất của ông N để làm dự án Cáp treo và quần thể vui chơi giải trí biển H - P có diện tích 733m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M961331, thuộc thửa đất số 34, tờ bản đồ số 1, mục đích sử dụng là đất cây lâu năm, tọa lạc tại ấp E, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
- - Buộc UBND thành phố P bồi thường, hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho ông N với số tiền 439.800.000 đồng.
- - Buộc UBND thành phố P bồi thường vật kiến trúc có trên đất của ông N khi bị thu hồi là 518.272.427 đồng.
Tổng số tiền ông N yêu cầu UBND thành phố P bồi thường, hỗ trợ tạm tính đến thời điểm năm 2021 là 2.973.822.427 đồng.
* Tại văn bản số 932/UBND-NC ngày 26/9/2022, người bị kiện UBND thành phố P và Chủ tịch UBND thành phố P trình bày:
Đối với nội dung ông N khởi kiện hủy Quyết định số 4436/QĐ-UBND ngày 17/8/2020 của Chủ tịch UBND thành phố P về việc giải quyết khiếu nại là không có căn cứ, vì:
- - Về thẩm quyền giải quyết tại Quyết định số 4436/QĐ-UBND ngày 17/8/2020 của Chủ tịch UBND thành phố P là Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu do Chủ tịch UBND thành phố ký ban hành là đúng với quy định tại Điều 18 Luật Khiếu nại 2011.
- - Về trình tự, thủ tục giải quyết: Chủ tịch UBND thành phố thực hiện đúng theo quy định Điều 27, Điều 28, Điều 29 và Điều 30 của Luật khiếu nại 2011.
- - Về hình thức văn bản: Chủ tịch UBND thành phố giải quyết khiếu nại bằng hình thức Quyết định là đúng với quy định tại Điều 31 Luật Khiếu nại 2011.
Nội dung: Trên cơ sở Quyết định số 1773/QĐ-UBND ngày 20/8/2015 của UBND tỉnh K về việc phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 dự án Cáp treo và quần thể vui chơi giải trí biển H - P tại thị trấn A và xã H với quy mô 395,298 ha.
Ngày 10/11/2015 Trung tâm K1 cùng UBND xã H tiến hành kiểm kê đất đai, cây trồng, vật kiến trúc đối với dự án Cáp treo và quần thể vui chơi giải trí biển H - P, lúc này ông Phạm Thiện N kê khai diện tích 733m² đất trồng cây lâu năm; vật kiến trúc (trong đó có hạng mục khu nhà nuôi ốc hương) và cây trồng.
Ngày 30/12/2016 UBND huyện P ban hành Quyết định số 8577/QĐ-UBND về việc thu hồi đất diện tích 733m² đất trồng cây lâu năm đối với ông Phạm Thiện N để thực hiện dự án Cáp treo và quần thể vui chơi giải trí biển H - P, cùng ngày UBND huyện P ban hành Quyết định số 8313/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án Cáp treo và quần thể vui chơi giải trí biển H - P.
Ngày 18/01/2017 UBND thành phố P ban hành Quyết định số 531/QĐ-UBND về việc bồi thường hỗ trợ và tái định cư dự án Cáp treo và quần thể vui chơi giải trí biển H - P cho ông Phạm Thiện N, theo đó bồi thường quyền sử dụng đất diện tích 733m² đất trồng cây lâu năm với đơn giá đơn giá 250.000đồng/m² (đơn giá bồi thường được thực hiện theo giá đất cụ thể được UBND tỉnh K quy định tại Quyết định số 2755/QĐ-UBND ngày 08/12/2016) với số tiền 183.250.000 đồng, (chưa thực hiện việc hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo
việc làm, bồi thường hạng mục vật kiến trúc nhà nuôi ốc hương cho ông Phạm Thiện N).
Do đó, việc ông N cho rằng UBND thành phố P phương án bồi quyền sử dụng đất diện tích 733m² đất trồng cây lâu năm theo Bảng giá đất của UBND tỉnh K là sai, vì UBND thành phố đã thực hiện việc bồi thường quyền đất cho ông N theo giá đất cụ thể của UBND tỉnh K. Đồng thời, ông N yêu cầu UBND thành phố bồi thường quyền sử dụng đất diện tích 733m² đất trồng cây lâu năm theo giá đất thị trường với đơn giá 3.000.000 đồng/m² là không đúng với quy định tại khoản 2 Điều 74 Luật Đất đai năm 2013.
Do UBND thành phố chưa thực hiện việc hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm, bồi thường hạng mục vật kiến trúc nhà nuôi ốc hương cho ông Phạm Thiện N nên ông khiếu nại sự việc trên đến Chủ tịch UBND thành phố.
Ngày 17/8/2020 Chủ tịch UBND thành phố P ban hành Quyết định số 4436/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông N, theo đó Chủ tịch UBND thành phố thống nhất hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm, bồi thường hạng mục vật kiến trúc nhà nuôi ốc hương cho ông Phạm Thiện N.
Ngày 30/10/2020 UBND thành phố P ban hành Quyết định số 6141/QĐ-UBND về việc bổ sung bồi thường vật kiến trúc, hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm cho ông Phạm Thiện N, theo đó UBND thành phố P hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm diện tích 733m² đất trồng cây lâu năm với đơn giá 900.000 đồng/m² cụ thể, “đơn giá 300.000 đồng/m² x 3" (việc áp dụng đơn giả hỗ trợ được thực hiện theo bảng giá đất của UBND tỉnh K quy định tại Quyết định số 35/QĐ-UBND ngày 22/12/2014) với số tiền 659.700.000 đồng; bồi thường vật kiến trúc (các hạng mục nhà nuôi ốc hương) với số tiền 284.432.313 đồng (áp giá bồi thường theo đơn giá thẩm định tại chứng thư số 56/2018/CT-BĐS/MIVC ngày 27/9/2018 của Công ty thẩm định giá và Tư vấn Đầu tư Miền tây cụ thể như sau: hạng mục nhà nuôi ốc hương diện tích 504m² x 2.696.417 đồng/m² với số tiền 1.046.425.509 đồng; nhà nuôi ốc hương diện tích 44,25m² x 2.696.417 đồng/m² với số tiền 91.873.668 đồng; mái che diện tích 8,85m² x 813.286 đồng/m² với số tiền 3.166.936 đồng), do trước đó phương án đã phê duyệt bồi thường các hạng mục trên với số tiền 857.033.800 đồng nên lấy tổng số tiền bồi thường toàn bộ hạng mục vật kiến trúc nêu trên 1.141.466.113 đồng - 857.033.800 đồng = 284.432.313 đồng).
Việc UBND thành phố hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho ông N với đơn giá bằng 03 (ba) lần nhân đơn giá đất quy định tại Quyết định số 35/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 của UBND tỉnh K là phù hợp với quy định tại Khoản 6 Điều 4 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ Sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai, vì đơn giá được thực hiện theo bảng giá đất của địa phương và mức hỗ trợ cụ thể là do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định căn cứ điều kiện thực tế của địa phương và đã được UBND tỉnh K quy định tại Điều 14 Quy định về bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (ban hành kèm theo Quyết định số 22/2015/QĐ-UBND ngày 17/6/2015 của UBND tỉnh K).
Từ đó, UBND thành phố hỗ trợ bằng 03 (ba) lần nhân cho giá đất theo bảng giá đất của UBND tỉnh K là đúng. Nên việc ông N yêu cầu UBND thành phố hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm bằng 05 (năm) lần nhân với bảng giá đất của địa phương là không có cơ sở.
Đối với việc bồi thường hạng mục vật kiến trúc gồm hạng mục nhà nuôi ốc hương diện tích 504m²; nhà nuôi ốc hương diện tích 44,25m² và hạng mục mái che diện tích 8,85m² mà ông Phạm Thiện N bị thiệt hại là một hạng mục vật kiến trúc đặt thù chưa có trong quy định về đơn giá xây dựng do Ủy ban nhân dân tỉnh B. Do đó, UBND thành phố căn cứ theo quy định tại Điều 7 Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (ban hành kèm theo Quyết định số 22/2015/QĐ-UBND ngày 17/6/2015 của UBND tỉnh K) đã chỉ đạo cơ quan chuyên môn thuê đơn vị định giá (Công ty T2).
Ngày 27/9/2018 đơn vị được thuê thẩm định giá có ban hành chứng thư số 56/2018/CT-BĐS/MIVC xác định giá bồi thường công trình vật kiến trúc (khu trang trại nuôi ốc hương) của ông Phạm Thiện N. Đồng thời, tại biên bản làm việc ngày 23/4/2020 của Thanh tra huyện (nay là Thanh tra thành phố) Phú Quốc với ông Phạm Thiện N thì ông N đã thống nhất với việc áp giá bồi thường hạng mục nhà nuôi ốc hương diện tích 504m²; nhà nuôi ốc hương diện tích 44,25m² và hạng mục mái che diện tích 8,85m² theo giá tại chứng thư số 56/2018/CT-BĐS/MIVC ngày 27/9/2018 của Công ty thẩm định giá và Tư vấn Đầu tư Miền Tây. Từ cơ sở đó, UBND thành phố đã lập phương án bổ sung áp giá bồi thường các hạng mục vật kiến trúc (nhà nuôi ốc hương) theo giá của chứng tư số 56/2018/CT-BĐS/MIVC ngày 27/9/2018 là trên đúng quy định và đúng theo sự thống nhất của ông N.
Còn việc ông N cho rằng việc chứng thư số 56/2018/CT-BĐS/MIVC ngày 27/9/2018 của Công ty thẩm định giá và Tư vấn Đầu tư Miền Tây chỉ nhân hệ số điều chỉnh 1.1 là chưa đúng mà phải nhân hệ chỉnh số 1.4 đối với đơn giá bồi thường các hạng mục nhà nuôi ốc hương diện tích 504m²; nhà nuôi ốc hương diện tích 44,25m² và hạng mục mái che diện tích 8,85m², vì ông N căn cứ trên cơ sở công văn số 1263/SXD-QLN ngày 14/9/2017 của Sở Xây dựng tỉnh K là không đúng, bởi lý do như sau: Theo nội dung của công văn số 1263/SXD-QLN ngày 14/9/2017 của Sở Xây dựng tỉnh K xác định “Đối với hệ số điều chỉnh K=1.1 thành K=1.4 là áp dụng cho đơn giá xây dựng mới nhà ở, công trình và các vật kiến trúc trên địa bàn Kiên Giang tại Quyết định số 35/2012/QĐ-UBND” tuy nhiên các hạng mục nhà nuôi ốc hương và mái che không nằm trong đơn giá điều chỉnh các hạng mục vật kiến trúc quy định tại Quyết định số 35/2012/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 của UBND tỉnh K.
Do đó, việc chứng thư số 56/2018/CT-BĐS/MIVC ngày 27/9/2018 của Công ty thẩm định giá và Tư vấn Đầu tư Miền tây chỉ nhân hệ số điều chỉnh 1.1 là đúng quy định.
Từ những cơ sở trên, Chủ tịch UBND thành phố khẳng định Quyết định số 531/QĐ-UBND ngày 18/01/2017 của UBND thành phố P về việc bồi thường hỗ trợ và tái định cư dự án Cáp treo và quần thể vui chơi giải trí biển H - P; Quyết định số 6141/QĐ-UBND ngày 30/10/2020 của UBND thành phố P về việc bổ sung bồi thường vật kiến trúc và hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm cho ông Phạm Thiện N; Quyết định số 4436/QĐ-UBND ngày 17/8/2020 của Chủ tịch UBND thành phố P về việc giải quyết khiếu nại của ông Phạm Thiện N là đúng.
Việc ông N khởi kiện, buộc UBND thành phố nâng giá bồi thường quyền sử dụng đất đối với diện tích 733m² đất trồng cây lâu năm với đơn giá 3.000.000 đồng/m² với tổng số tiền tạm tính đến 2021 là 2.015.750.000 đồng; Buộc UBND thành phố bồi thường, hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm với số tiền 439.800.000 đồng; Buộc UBND thành phố bồi thường vật kiến trúc trên đất bị thu hồi của ông Phạm Thiện N với số tiền 518.272.427 đồng là không có cơ sở xem xét.
Từ những cơ sở nêu trên, UBND thành phố, Chủ tịch UBND thành phố đề nghị Tòa án tuyên bác toàn bộ nội dung khởi kiện của ông Phạm Thiện N.
* Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 162/2022/HC-ST ngày 28 tháng 10 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, quyết định:
Tuyên xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Thiện N về việc:
- - Không chấp nhận yêu cầu hủy Quyết định số 4436/QĐ-UBND ngày 17/8/2020 của Chủ tịch UBND thành phố P về việc giải quyết khiếu nại.
- - Không chấp nhận yêu cầu hủy Quyết định số 531/QĐ-UBND ngày 18/01/2017 của UBND thành phố P về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án Cáp treo và quần thể vui chơi giải trí biển H - P tại thị trấn A, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
- - Không chấp nhận yêu cầu hủy Quyết định số 6141/QĐ-UBND ngày 30/10/2020 của UBND thành phố P về việc bổ sung bồi thường vật kiến trúc, hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho ông Phạm Thiện N.
- - Không chấp nhận yêu cầu buộc UBND thành phố P nâng giá bồi thường quyền sử dụng đất cho ông Phạm Thiện N tạm tính tại thời điểm năm 2021 đối với phần diện tích đất cây lâu năm 733m² với đơn giá 3.000.000 đồng/m², số tiền bồi thường tạm tính tại thời điểm năm 2021 là 2.015.750.000 đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M961331, thuộc thửa đất số 34, tờ bản đồ số 1, mục đích sử dụng là đất cây lâu năm, tọa lạc tại ấp E, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, do UBND thành phố P cấp ngày 18/12/2012 cho ông Phạm Thiện N.
- - Không chấp nhận yêu cầu buộc UBND thành phố P bồi thường, hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho ông N với số tiền 439.800.000 đồng.
- - Không chấp nhận yêu cầu buộc UBND thành phố P bồi thường vật kiến trúc có trên đất của ông N khi bị thu hồi là 518.272.427 đồng.
Ngoài ra, Án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định
Ngày 08/11/2022, người khởi kiện ông Phạm Thiện N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu đơn khởi kiện.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Người đại diện theo ủy quyền của khởi kiện ông N có văn bản đề nghị Tòa xét xử vắng mặt và giữ nguyên nội dung kháng cáo, không cung cấp chứng cứ gì thêm.
- - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có quan điểm: cho rằng dự án Cáp treo và quần thể vui chơi giải trí biển H - P có mục đích thương mại, dịch vụ nên phải bồi thường theo thỏa thuận với chủ đầu tư; Phía người bị kiện áp giá Nhà nước bồi thường là không phù hợp. Nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông N, sửa bản án sơ thẩm theo hướng hủy các Quyết định số 4436/QĐ-UBND ngày 17/8/2020 và Quyết định số 531/QĐ-UBND ngày 18/01/2017 của UBND thành phố P về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án Cáp treo và quần thể vui chơi giải trí biển H - P tại thị trấn A, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang đối với ông N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa, qua kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
Tại phiên tòa, người bị kiện có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 157 và Điều 158 Luật Tố tụng Hành chính, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đương sự theo quy định.
[2]. Xét kháng cáo của người khởi kiện ông Phạm Thiên N2, thấy rằng:
[2.1]. Về trình tự, thủ tục thu hồi bồi thường về đất đối với dự án Cáp treo và quần thể vui chơi giải trí biển H - P tại thị trấn A, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Theo như người khởi kiện cho rằng việc thu hồi đất thực hiện dự án có mục đích thương mại nên phải áp giá thị trường, còn phía người bị kiện cho rằng mục đích thu hồi đất phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nên áp giá của Ủy ban nhân dân tỉnh K; Vấn đề này Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm thấy rằng:
Dự án Cáp treo và quần thể vui chơi giải trí biển H - P tại thị trấn A, xã H,
huyện P, tỉnh Kiên Giang thuộc dự án theo Quyết định số 01/2007/QĐ-TTg ngày 08/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển du lịch đảo P, tỉnh Kiên Giang thời kỳ 2006 – 2020 và Quyết định số 633/QĐ-TTg ngày 11/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng đảo P, tỉnh Kiên Giang đến năm 2030, được Hội đồng đồng nhân dân tỉnh K ban hành Thông báo số 217/TB-HĐND ngày 25/9/2015 về việc bổ sung danh mục dự án cần thu hồi đất trong đó có dự án cáp treo H - P; Nên thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; không phải là mục đích thương mại như người khởi kiện trình bày;
Do đó việc phía người bị kiện ban hành các Quyết định số 8577/QĐ-UBND ngày 30/12/2016 của UBND huyện (nay là thành phố) Phú Quốc thu hồi đất của ông Phạm Thiện N; Quyết định số 531/QĐ-UBND ngày 18/01/2017 và Quyết định số 6141/QĐ-UBND ngày 30/10/2020 về việc bồi thường, hỗ trợ cho ông N theo giá đất được ban hành tại Quyết định số 2755/QĐ-UBND ngày 08/12/2016 của UBND tỉnh K với đơn giá đất trồng cây lâu năm 250.000 đồng/m² là phù hợp đúng với quy định tại khoản 2 Điều 74 Luật Đất đai năm 2013. Việc người khởi kiện kháng cáo đề nghị áp giá thị trường để chủ đầu tư bồi thường 3.000.000 đồng/m2 trên diện tích đất 733m² bị thu hồi là không có cở sở chấp nhận.
[2.2]. Đối với kháng cáo về tiền hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm và bồi thường vật kiến trúc (hạng mục nhà nuôi ốc hương), thấy rằng:
Trên cơ sở Chứng thư thẩm định giá số 56/2018/CT-BĐS/MIVC ngày 27/9/2018 và được sự thống nhất của ông N (tại Biên bản làm việc ngày 23/4/2020 của Thanh tra thành phố P), Ủy ban nhân dân thành phố P ban hành Quyết định số 6141/QĐ-UBND ngày 30/10/2020 bổ sung bồi thường vật kiến trúc, hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm với số tiền 944.132.313 đồng cho ông N là phù hợp Điều 7 quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Kiên Giang theo Quyết định số 22/2015/QĐ-UBND ngày 17/6/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh K và khoản 1 Điều 9 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
[3]. Từ những phân tích và nhận định trên, Tòa án cấp sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Thiện N là có căn cứ; Quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị sửa án sơ thẩm, hủy các quyết định hành chính bị kiện là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[4]. Về án phí hành chính phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên ông N phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền ông N đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004137 ngày 07/12/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 của Bộ luật Tố tụng hành chính; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm số 162/2022/HC-ST ngày 28 tháng 10 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
2. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Thiện N về việc:
- - Hủy các Quyết định số 4436/QĐ-UBND ngày 17/8/2020 của Chủ tịch UBND thành phố P về việc giải quyết khiếu nại; Quyết định số 531/QĐ-UBND ngày 18/01/2017 của UBND thành phố P về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án Cáp treo và quần thể vui chơi giải trí biển H - P tại thị trấn A, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; Quyết định số 6141/QĐ-UBND ngày 30/10/2020 của UBND thành phố P về việc bổ sung bồi thường vật kiến trúc, hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho ông Phạm Thiện N.
- - Không chấp nhận yêu cầu buộc UBND thành phố P nâng giá bồi thường quyền sử dụng đất cho ông Phạm Thiện N tạm tính tại thời điểm năm 2021 đối với phần diện tích đất cây lâu năm 733m² với đơn giá 3.000.000 đồng/m², số tiền bồi thường tạm tính tại thời điểm năm 2021 là 2.015.750.000 đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M961331, thuộc thửa đất số 34, tờ bản đồ số 1, mục đích sử dụng là đất cây lâu năm, tọa lạc tại ấp E, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, do UBND thành phố P cấp ngày 18/12/2012 cho ông Phạm Thiện N.
- - Không chấp nhận yêu cầu buộc UBND thành phố P bồi thường, hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho ông N với số tiền 439.800.000 đồng.
- - Không chấp nhận yêu cầu buộc UBND thành phố P bồi thường vật kiến trúc có trên đất của ông N khi bị thu hồi là 518.272.427 đồng.
3. Án phí hành chính phúc thẩm: Người khởi kiện ông Phạm Thiện N phải chịu 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền ông N đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004137 ngày 07/12/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang, đương sự đã nộp đủ tiền.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chung Văn Kết |
Bản án số 745/2023/HC-PT ngày 28/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
- Số bản án: 745/2023/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2023
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
