|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH Bản án số: 744/2024/HNGĐ-ST Ngày: 20-8-2024 V/v: “Ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Dung
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Phối
2. Bà Lê Thị Ngọc
-Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Văn Phương Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Võ Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 374/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024 về hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 227/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, Sinh năm: 1996 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Tổ B, Khu phố C, P. N, TP ., T. B.
- - Bị đơn: Anh Đặng Văn T, sinh năm: 1994 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Lô S, C - Chợ D, đường T, Khu phố B, P. N, TP ., T. B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 10/5/2024 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Nguyễn Thị M trình bày: Chị và anh Đặng Văn T tự nguyện tìm hiểu và kết hôn vào ngày 19/5/2023 tại UBND Thị Trấn Q, huyện G, tỉnh Nam Định theo giấy chứng nhận kết hôn số 20. Trước khi kết hôn anh chị có tìm hiểu với nhau một thời gian. Sau kết hôn vợ chồng sống tại tổ B, Khu phố C, P. N, Tp ., nhưng trong quá trình chung sống vợ chồng không có hạnh phúc thường xuyên sảy ra mâu thuẫn vì không có tiếng nói chung với nhau. Tháng 12/2023 chị có đơn xin ly hôn nhưng sau khi rút đơn cuộc sống vợ chồng cũng không hạnh phúc. Cả hai không quan tâm lo lắng gì đến nhau, hiện tình cảm giữa chị và anh T cũng không còn, mục đích hôn nhân không đạt, nay chị yêu cầu Tòa giải quyết cho chị được ly hôn với anh T để chị ổn định cuộc sống.
Quá trình chung sống vợ chồng chị và anh T chưa có con chung nên chị không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa giải quyết.
Bị đơn anh Đặng Văn T đã được Toà triệu tập hợp lệ nhiều lần đến Toà để khai báo, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hoà giải và tham gia phiên Toà xét xử nhưng anh T không đến Toà làm việc.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật về tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:
Thẩm phán đã thực hiện đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm xét xử sơ thẩm. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn thực hiện đúng nhưng bị đơn còn vi phạm các quyền và nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS.
* Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình. Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị M được ly hôn với anh Đặng Văn T; Về con chung và tài sản chung: Không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn. Bị đơn có địa chỉ tại: Lô S, Cửa Bắc - C, đường T, Khu phố B, P. N, TP ., T. B. Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn thụ lý vụ án, giải quyết theo thẩm quyền quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên Tòa. HĐXX căn cứ vào Điều 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M và anh Đặng Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu nhau và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 20 tại UBND Thị Trấn Q, huyện G, tỉnh Nam Định ngày 19/5/2023 đúng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau kết hôn vợ chồng sống tại tổ B, Khu phố C, P. N, Tp ., nhưng trong quá trình chung sống vợ chồng không có hạnh phúc thường xuyên sảy ra mâu thuẫn nguyên nhân vì cả hai không có tiếng nói chung với nhau. Mặc dù chị M đã tạo cơ hội để vợ chồng hàn gắn nhưng không có kết quả. Đến nay tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không có, mục đích hôn nhân không đạt được, chị M yêu cầu ly hôn anh T, nhưng anh T không đến Tòa tham gia tố tụng giải quyết vụ án thể hiện anh không có thiện chí hàn gắn bỏ mặc đời sống hôn nhân. HĐXX xét thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được là phù hợp với việc Tòa xác minh thu thập chứng cứ tại địa phương. Nên chị M yêu cầu ly hôn anh T là phù hợp với quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội được qui định tại Điều 56 luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
- [3] Về quan hệ con chung: Anh chị chưa có con chung, không yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét giải quyết.
- [4] Về quan hệ tài sản: Chị M không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.
- [5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Căn cứ theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chị M phải chịu 300.000đ án phí ly hôn.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với HĐXX.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, 39, 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Đặng Văn T.
- Về con chung: Chị M, anh T chưa có con chung, không yêu cầu Tòa giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị M không yêu cầu Tòa giải quyết.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị M phải nộp 300.000đ án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000921 ngày 13/5/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Quy Nhơn, chị M đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị M, anh Đặng Văn T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
|
Lê Thị Ngọc Dung |
Bản án số 744/2024/HNGĐ-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn
- Số bản án: 744/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
