Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Bản án số: 744/2024/HC-PT

Ngày 18-7-2024

V/v: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai về trường hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giải quyết khiếu nại”

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Đức Phương.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Tửu.

Ông Mai Xuân Thành.

Thư ký phiên tòa: Bà Lã Thị Thu Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 387/2024/TLPT-HC ngày 20/4/2024 về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai về trường hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giải quyết khiếu nại".

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 35/2023/HC-ST ngày 17 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1791/2024/QĐ-PT ngày 03 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

Người khởi kiện: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1957 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp F, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện:

Ông Huỳnh Hồ Minh H, Công ty L2, thuộc Đoàn Luật sư H6 (vắng mặt).

Ông Nguyễn Đình T, Công ty L2, thuộc Đoàn Luật sư H6 (có mặt).

Cùng địa chỉ: A P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông Cao Thế L, Công ty L3, thuộc Đoàn Luật sư H6 (có mặt).

Địa chỉ: D lô A B, khóm B, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

Người bị kiện:

  1. Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Nai.
  2. Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Địa chỉ: Khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện hợp pháp của người bị kiện: Ông Trần Văn T1; chức vụ: Phó chủ tịch UBND huyện L (Theo văn bản ủy quyền số 463/UQ-UBND ngày 17/01/2023 và văn bản số 8241/UBND-NC ngày 11/8/2023 của Chủ tịch UBND huyện L - vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Hoàng Mạnh H1; chức vụ: Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện L (Theo văn bản số 440/UBND-NC ngày 17/01/2023 và văn bản số 8579/UBND-NC ngày 17/8/2023 của Chủ tịch UBND huyện L – có mặt).

  1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ.

Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị H2; chức vụ: Phó chủ tịch UBND tỉnh Đ (Theo văn bản ủy quyền số 805/UBND-THNC ngày 02/02/2023 của Chủ tịch UBND tỉnh Đ - vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Huỳnh Thế L1; chức vụ: Giám đốc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh L4 (Theo văn bản số 806/UBND-THNC ngày 02/02/2023 của Chủ tịch UBND tỉnh Đ - có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện hợp pháp: Ông Dương Ngọc Đ1; chức vụ: Phó Chủ tịch UBND xã B (Theo văn bản ủy quyền số 563/UQ-UBND ngày 22/4/2023 của Chủ tịch UBND xã B - vắng mặt).

Người kháng cáo: Người khởi kiện, bà Nguyễn Thị Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người khởi kiện, bà Nguyễn Thị Đ và người đại diện hợp pháp trình bày:

Ông Nguyễn Văn M (Nguyễn Văn S) chết năm 1963 và bà Nguyễn Thị Đ2 chết năm 1955 là ông, bà ngoại của bà Đ. Ông M, bà Đ2 có 02 người con là Nguyễn Thị H3 (mẹ của bà) và Nguyễn Thị H4 (chết lúc còn nhỏ). Bà H3, chết năm 1964 có 02 người con là Nguyễn Văn T2 chết năm 1967 và bà. Sau khi bà Đ2 chết thì ông M tái hôn với bà Đỗ Thị H5, sinh năm 1910 (là bà ngoại kế của bà Đ). Bà H5 không có con nên chăm sóc nuôi dưỡng bà H3. Bà H5 có khai hoang diện tích 2.483,5m² (nay thuộc thửa số 274, tờ bản đồ số 28 xã B, huyện L) từ trước năm 1975, trên đất có các ngôi mộ của ông M, bà Đ2, bà Nguyễn Thị H4 (dì của bà Đ), ông Nguyễn Văn T3 (chồng trước của bà H5).

Năm 1986, bà H5 về miền B sinh sống nên đã cho bà thửa số 274, chỉ nói miệng không có văn bản và bà đã quản lý, sử dụng không ai tranh chấp. Từ năm 2004-2005, bà liên hệ với UBND xã B kê khai đăng ký quyền sử dụng đất thì

được cán bộ địa chính cho biết là UBND xã chuẩn bị cho toàn xã kê khai đăng ký đồng loạt nên yêu cầu bà chờ để kê khai đồng loạt nhưng sau đó xã không tổ chức thực hiện việc kê khai. Ngày 08/5/2013, bà có đơn gửi UBND xã B yêu cầu được xem xét cấp giấy CNQSDĐ đối với diện tích 2.294m² thuộc thửa đất số 29, tờ bản đồ số 9.

Ngày 08/7/2013, UBND xã B có văn bản số 167/UBND, với nội dung: “Theo quy hoạch sử dụng đất xã B từ năm 1996-2000, điều chỉnh quy hoạch qua các thời kỳ (năm 2001-2005; 2006-2010; 2011-2015); quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và báo cáo số 89/BC.TNMT ngày 14/5/2013 của phòng Tài nguyên và Môi trường huyện L, xác định diện tích 2.294m² thuộc thửa đất số 29, tờ bản đồ số 9 (nay thuộc thửa số 274, tờ bản đồ số 28 xã B, diện tích 2.483,5m²) là đất nghĩa địa và nằm trong quy hoạch nghĩa địa (NTĐ)”. Do đó, UBND xã B không có thẩm quyền xét cấp giấy CNQSDĐ cho bà. Sau đó, UBND xã B lập biên bản yêu cầu gia đình bà không được canh tác nên từ năm 2013 gia đình bà không được canh tác và sử dụng phần đất này.

Không đồng ý với văn bản của UBND xã B, bà khiếu nại đến UBND huyện L. Ngày 08/12/2016, Chủ tịch UBND huyện L có Quyết định số 6379/QĐ-UBND về việc giải quyết đơn của bà nhưng đến ngày 19/11/2018 thì Chủ tịch UBND huyện L ban hành Quyết định số 4308/QĐ-UBND về việc thu hồi Quyết định số 6379/QĐ-UBND ngày 08/12/2016. Tuy nhiên, trong quá trình xem xét cấp giấy CNQSDĐ thì UBND xã B, UBND huyện L và UBND tỉnh Đ đã từ chối cấp giấy CNQSDĐ cho bà với lý do “đất nghĩa địa do UBND xã quản lý” và đã ban hành các Quyết định số 385/QĐ-UBND ngày 14/02/2020 của Chủ tịch UBND huyện L về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) và Quyết định số 2227/QĐ-UBND ngày 01/7/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh Đ về việc giải quyết đơn khiếu nại của bà Nguyễn Thị Đ (lần hai).

Nay, bà Đ khởi kiện yêu cầu: Huỷ Quyết định số 385/QĐ-UBND ngày 14/02/2020 của Chủ tịch UBND huyện L; Huỷ Quyết định số 2227/QĐ-UBND ngày 01/7/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh Đ và công nhận cho bà được quyền sử dụng diện tích 2.483,5m² thuộc thửa đất số 274, tờ bản đồ số 28 xã B, đồng thời cho bà được liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục xin cấp giấy CNQSDĐ đối với phần đất nói trên.

Người bị kiện, Ủy ban nhân dân huyện L và Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L trình bày:

Sau khi nhận được đơn khiếu nại của bà Đ về việc không cấp giấy CNQSDĐ, ngày 03/12/2019, UBND huyện L ban hành Quyết định số 4209/QĐ-UBND về việc giao nhiệm vụ xác minh nội dung đơn khiếu nại của bà Đ. Ngày 03/01/2020, Thanh tra huyện có Báo cáo số 03/BC-TTr về kết quả xác minh nội dung khiếu nại. Trên cơ sở đó, ngày 16/01/2020, Chủ tịch UBND huyện L chủ trì tổ chức đối thoại với bà Đ. Ngày 02/02/2020, Thanh tra huyện phối hợp với UBND xã B xác minh khu đất có lập biên bản hiện trạng.

Ngày 14/02/2020, Chủ tịch UBND huyện L ban hành Quyết định số 385/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của bà Đ (lần đầu), có nội dung:

Không chấp nhận khiếu nại của bà Đ về việc cấp giấy CNQSDĐ thửa đất số 29, tờ bản đồ số 09, diện tích 2.294m² tại xã B do không cung cấp được các giấy tờ theo quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013, cụ thể:

Theo báo cáo của UBND xã B thể hiện thửa số 29, diện tích 2.294m² (thửa số 274, diện tích 2.483,5m²) có nguồn gốc là đất nghĩa địa từ trước năm 1975 và bản đồ quy hoạch xã B được phê duyệt năm 2001 là quy hoạch đất nghĩa địa; Kết quả xác minh thể hiện, nguồn gốc là đất nghĩa địa, gia đình bà Đ không sử dụng phần đất này, vì trên đất có mộ của ông M nên bà H5 có đến dẫy cỏ và chăm sóc mộ, sau này bà H5 về miền B sinh sống thì vợ chồng bà Đ chăm sóc mồ mả chứ không canh tác trên đất; 05 trên tổng số 07 ngôi mộ mà bà Đ cho là của thân nhân nhưng qua xác minh của UBND xã thì chỉ có 01 ngôi mộ là của ông ngoại bà Đ, các ngôi mộ còn lại, bà Đ không chứng minh được quan hệ thân nhân; Về nguồn gốc đất thì bà Đ trình bày không nhất quán, lúc cho rằng là đất của bà ngoại khai phá và sử dụng trước năm 1975, lúc thì lại nói khai phá năm nào không biết; Theo sổ mục kê đất đai năm 1999 do UBND xã B cung cấp thì thửa đất số 29 là đất nghĩa địa do UBND xã quản lý và loại đất trên bản đồ địa chính là đất nghĩa địa; Theo Báo cáo số 20/BC.UBND ngày 12/5/2006 và Báo cáo số 27/BC-UBND ngày 11/3/2016 của UBND xã B đều xác định thửa 29 là đất công do UBND xã quản lý.

Như vậy, bà Đ khiếu nại yêu cầu được cấp giấy CNQSDĐ đối với thửa đất số 29, diện tích 2.294m² (thửa 274, diện tích 2.483,5m²) là chưa phù hợp với quy định tại khoản 2, Điều 101 Luật Đất đai năm 2013; khoản 5, Điều 20, khoản 1, Điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ.

Ngày 19/2/2020, UBND xã B đã niêm yết công khai Quyết định số 385/QĐ-UBND. Cùng ngày, Thanh tra huyện đã mời bà Đ đến Trụ sở cơ quan Thanh tra huyện để công bố và giao Quyết định số 385/QĐ-UBND nêu trên.

Qua kiểm tra, rà soát hồ sơ, nhận thấy Quyết định số 385/QĐ-UBND ngày 14/2/2020 của Chủ tịch UBND huyện L ban hành là đảm bảo đúng trình tự thủ tục theo quy định Luật Khiếu nại 2011. Đối với Quyết định số 2227/QĐ-UBND ngày 01/7/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh Đ về việc giải quyết đơn khiếu nại của bà Nguyễn Thị Đ (lần hai) thì đề nghị Tòa án liên hệ UBND tỉnh Đ để được cung cấp thông tin, hồ sơ tài liệu theo quy định.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ trình bày:

  1. Nguồn gốc sử dụng đất:

Theo Báo cáo số 740/BC-STNMT ngày 26/11/2020 và Văn bản số 1187/STNMT-TT ngày 19/02/2021 của Sở T5, thể hiện: Khu đất có diện tích 2.483,5m² thuộc thửa số 274, tờ bản đồ số 28 (trước đây có diện tích 2.294m² thuộc thửa số 29, tờ bản đồ số 9) xã B, có nguồn gốc là đất nghĩa địa từ trước năm 1975, các hộ dân sử dụng khu đất này để chôn cất người chết. Theo sổ mục kê đất đai được Giám đốc Sở Địa chính xác nhận ngày 06/4/2000, thể hiện thửa đất trên là đất công do UBND xã B quản lý, sử dụng vào mục đích đất nghĩa địa; Tại sổ mục kê đất đai được Sở T5 xác nhận ngày 20/12/2021, thể hiện mục đích sử dụng

là đất nghĩa địa. Trong tổng diện tích 2.483,5m², có khoảng 80m² đang sử dụng để chôn người chết từ trước năm 1975 cho đến nay (gồm có 7 ngôi mộ), diện tích đường giao thông 201,5m², diện tích còn lại UBND xã B giao Đoàn Thanh niên trồng cây dầu, cây tràm bông vàng từ năm 2013 đến nay.

  1. Kết quả xác minh:

Kết quả giải quyết khiếu nại:

Ngày 08/7/2013, UBND xã B có Văn bản số 167/UBND trả lời cho bà Đ, với nội dung: Theo quy hoạch sử dụng đất xã B từ năm 1996 – 2000, điều chỉnh quy hoạch qua các thời kỳ (năm 2001 – 2005, 2006-2010, 2011-2015); quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và theo Báo cáo số 89/BC.TNMT ngày 14/5/2013 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện L, xác định diện tích 2.294m² thuộc thửa số 29, tờ bản đồ số 9 xã B là đất nghĩa địa và nằm trong quy hoạch đất nghĩa địa (NTD). Do đó, UBND xã B không có thẩm quyền xét cấp giấy CNQSDĐ cho bà Đ.

Không đồng ý, bà Đ đã khiếu nại, ngày 26/6/2014, UBND xã B có Văn bản số 122/UBND, với nội dung: Thường trực Đảng ủy thống nhất không tổ chức họp đối thoại đối với nội dung yêu cầu của bà Đ, vì thực tế đơn khiếu nại của bà Đ đang được UBND huyện L xử lý và sẽ trả lời cho bà Đ trong thời gian tới. Bà Đ tiếp tục khiếu nại và ngày 09/6/2016, Chủ tịch UBND huyện L ban hành Quyết định số 6279/QĐ-UBND ngày 08/12/2016, bác đơn khiếu nại của bà Đ.

Không đồng ý nên bà Đ tiếp tục khiếu nại. Ngày 24/3/2017, Chủ tịch UBND tỉnh Đ ban hành Thông báo số 2684/TB-UBND-TCD về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại của bà Đ do quá thời hạn khiếu nại theo quy định tại Khoản 6, Điều 11, Luật Khiếu nại năm 2011. Ngày 06/9/2017, bà Đ tiếp tục có đơn gửi Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai, với nội dung không đồng ý Quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND huyện L và nêu lý do chậm gửi đơn khiếu nại đến UBND tỉnh dẫn đến quá thời hạn khiếu nại là do chờ Huyện ủy, UBND huyện L xem xét, giải quyết lại vụ việc.

Theo Văn bản số 45/ĐĐBQH ngày 13/9/2017, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh về việc chuyển đơn và yêu cầu Chủ tịch UBND tỉnh xem xét giải quyết, ngày 20/9/2017, UBND tỉnh có Văn bản số 9476/UBND-TCD giao Thanh tra tỉnh chủ trì, phối hợp với Sở T5, UBND huyện L kiểm tra, rà soát đơn khiếu nại ngày 06/9/2017 của bà Đ. Ngày 16/10/2017, Thanh tra tỉnh có Văn bản số 808/TT-TKKNC1 kiến nghị UBND tỉnh có văn bản hướng dẫn bà Đ thực hiện quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với Quyết định số 6279/QĐ-UBND ngày 08/12/2016 của Chủ tịch UBND huyện L tại Tòa án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

Theo đề nghị của Thanh tra tỉnh, ngày 14/8/2018, UBND tỉnh có Văn bản số 8606/UBND-TCD đề nghị UBND huyện L nghiên cứu nội dung kết luận, kiến nghị tại Thông báo số 63/TB-ĐĐBQH ngày 27/7/2018 của Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh và Văn bản số 923/TT-TTKNTC1 ngày 31/7/2018 của Thanh tra tỉnh; xem xét xử lý dứt điểm đơn khiếu nại của bà Đ theo quy định pháp luật. Ngày

19/11/2018, UBND huyện L ban hành Quyết định số 4308/QĐ-UBND thu hồi Quyết định số 6279/QĐ-UBND ngày 08/12/2016 của Chủ tịch UBND huyện L về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) của bà Nguyễn Thị Đ.

Sau đó, bà Đ tiếp tục có đơn yêu cầu giải quyết khiếu nại, thời điểm này có nhiều hộ dân có đơn kiến nghị gửi UBND huyện L yêu cầu không xem xét cấp giấy CNQSDĐ cho bà Đ vì là đất nghĩa địa. Trên cơ sở nội dung Báo cáo số 03/BC-TTr ngày 03/01/2020 của Thanh tra huyện L, Chủ tịch UBND huyện L ban hành Quyết định số 385/QĐ-UBND ngày 14/2/2020 về việc giải quyết đơn khiếu nại (lần đầu) của bà Nguyễn Thị Đ, với nội dung: Không công nhận nội dung đơn của bà Đ khiếu nại việc UBND huyện L không xem xét cấp giấy CNQSDĐ đối với diện tích 2.483,5m² thuộc thửa số 274.

Bà Đ khiếu nại Quyết định số 385/QĐ-UBND trên và ngày 13/3/2020, Chủ tịch UBND tỉnh Đ ban hành Quyết định số 774/QĐ-UBND về việc giao nhiệm vụ cho Sở Tài nguyên và Môi trường xác minh nội dung đơn khiếu nại của bà Nguyễn Thị Đ. Theo Báo cáo số 740/BC-STNMT ngày 26/11/2020 và văn bản số 1187/STNMT ngày 19/02/2021 của Sở T5, có nội dung xác định Chủ tịch UBND huyện L ban hành Quyết định số 385/QĐ-UBND ngày 14/2/2020 bác đơn khiếu nại của bà Đ về việc yêu cấp giấy CNQSDĐ diện tích 2.483,5m² thuộc thửa số 274, tờ bản đồ số 28 xã B, huyện L là có cơ sở. Bà Đ khiếu nại Quyết định số 385/QĐ-UBND ngày 14/2/2020 của UBND huyện L nhưng cũng không cung cấp được chứng cứ tài liệu gì mới so với trước đây.

Ngày 08/01/2021, UBND tỉnh tổ chức đối thoại với bà Đ. Sau buổi đối thoại, UBND tỉnh Đ đã yêu cầu làm rõ thêm một số nội dung liên quan đến việc khiếu nại của bà Đ, để có hướng giải quyết vụ việc một cách khách quan, đúng theo quy định pháp luật.

Ngày 10/02/2021 Sở T5 ban hành văn bản số 1187/STNMT-TT, có nội dung: Qua rà soát hồ sơ và theo Báo cáo số 16/BC-UBND ngày 08/02/2021 của UBND xã B thể hiện: Diện tích 2.483,5m² thuộc thửa số 274 xã B, huyện L, có nguồn gốc là đất nghĩa địa từ trước năm 1975 do UBND xã quản lý, các hộ dân sử dụng khu đất này để chôn cất người chết. Năm 1985, các hộ dân đã bốc mộ người chết và di dời hài cốt về khu nghĩa địa tập trung, hiện tại trên thửa đất số 274 chỉ còn 07 ngôi mộ. Năm 2013, UBND xã B đã giao Đoàn Thanh niên xã trồng thêm cây tràm trên toàn bộ thửa đất số 274 cho đến hiện nay; Theo Sổ mục kê đất đai được Giám đốc Sở Địa chính xác nhận ngày 06/04/2000 và ngày 20/12/2011 thì thửa đất trên là đất công do UBND xã B quản lý, mục đích sử dụng là đất nghĩa địa.

Theo quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 1996 – 2000, 2001 – 2010, 2011 – 2020 thì thửa đất số 274 xã B thuộc đất nghĩa địa. Theo Quyết định số 4628/QĐ-UBND ngày 22/12/2017 của UBND tỉnh về việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 trên địa bàn huyện L, thể hiện thửa đất số 274 thuộc quy hoạch đất ở nông thôn.

Ủy ban nhân dân xã B trình bày, việc quy hoạch sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên từ đất nghĩa địa sang đất ở là do nhầm lẫn trong quá trình thực hiện.

Liên quan đến nội dung này, ngày 19/7/2018, Sở T5 có Văn bản số 4738/STNMT-QH gửi UBND các huyện, thị xã L và UBND thành phố B về việc không đồng bộ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch ngành, theo đó thửa đất số 274, tờ bản đồ số 28 xã B quy hoạch sử dụng đất là đất ở tuy nhiên, quy hoạch ngành là đất nghĩa địa. Ngày 27/8/2018, UBND huyện L có Văn bản số 7476/UBND-NN thống nhất với việc không đồng bộ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch ngành thể hiện tại Văn bản số 4738/STNMT-QH ngày 19/7/2018 của Sở T5.

Báo cáo số 55/BC-UBND ngày 18/02/2021 của UBND huyện L, có nội dung: Thực hiện ý kiến của Ban Nội chính Tỉnh ủy tại Văn bản số 317-BC/BNCTU ngày 08/11/2017 về việc ý kiến xử lý đơn của bà Nguyễn Thị Đ “Việc UBND huyện L giải quyết đơn bà Đ tại Quyết định số 6279/QĐ-UBND bác đơn khiếu nại của bà Đ là đúng quy định. Các cơ quan chức năng căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất là đất nghĩa địa nên không xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Đ là quá máy móc, cứng nhắc; chưa xem xét thấu đáo quá trình gia đình bà Đ khai phá, sử dụng phần đất nêu trên và gia đình bà Đ là đối tượng chính sách. Quan điểm của Thường trực huyện ủy và UBND huyện L, giao UBND xã B rà soát quỹ đất công, đề xuất giao cho bà Đ phần đất khác tương ứng là thấu tình, đạt lý. Do đó, đề xuất Huyện ủy Long Thành chỉ đạo UBND huyện khẩn trương điều chỉnh lại quy hoạch đối với phần đất nêu trên, bố trí sử dụng đất phù hợp với quy định của pháp luật. Huyện ủy Long T4 chỉ đạo UBND huyện L sớm xem xét giao cho bà Nguyễn Thị Đ diện tích đất (nông nghiệp) khác phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của xã B hoặc 01 lô đất ở có giá trị tương đương, đảm bảo đúng quy định pháp luật”, UBND huyện L đã tổ chức đối thoại với bà Đ vào ngày 06/02/2018 để vận động giải thích liên quan đến việc giao đất khác cho bà Đ, để hỗ trợ gia đình bà Đ là đối tượng chính sách theo ý kiến của Ban Nội chính Tỉnh uỷ, chứ không phải thực hiện hoán đổi vị trí đất thuộc thửa số 274, tờ bản đồ số 28 xã B qua vị trí khác cho gia đình bà Đ.

Ngày 29/5/2018, Thanh tra tỉnh đã làm việc với bà Đ, cùng với sự tham dự của Ban Nội chính Tỉnh ủy, UBND huyện L và UBND xã B để trao đổi về việc giao đất cho gia đình bà Đ theo ý kiến của Ban Nội chính Tỉnh ủy tại Văn bản số 317-BC/BNCTU ngày 08/11/2017, theo đó UBND huyện L và UBND xã B đề xuất giao cho gia đình bà Đ diện tích 397,4m² thuộc một phần thửa số 130, tờ bản đồ số 28 hoặc diện tích tương đương 2.000m² thuộc một phần thửa số 13, tờ bản đồ số 12 xã B.

Như vậy, UBND huyện L và UBND xã B chỉ thực hiện đối thoại để rà soát giao đất cho gia đình bà Đ theo ý kiến của Ban Nội chính Tỉnh ủy, vì gia đình bà Đ thuộc đối tượng chính sách, chứ không phải thực hiện việc hoán đổi đất cho gia đình bà Đ. Việc bà Đ cho rằng, UBND huyện L và UBND xã B đề nghị bà hoán đổi vị trí thửa đất 274, tờ bản đồ số 28 xã B sang vị trí đất khác là không đúng.

Trên cơ sở đề xuất của Sở T5 tại Báo cáo số 740/BC-STNMT ngày 26/11/2020, ngày 01/7/2021, Chủ tịch UBND tỉnh Đ ban hành Quyết định số 2227/QĐ-UBND về việc giải quyết đơn khiếu nại của bà Nguyễn Thị Đ (lần hai), cụ thể: Không công nhận nội dung khiếu nại của bà Đ về việc yêu cầu cấp giấy

CNQSDĐ đối với diện tích 2.483,5m² thuộc thửa đất số 274, tờ bản đồ địa chính số 28 xã B, huyện L; Công nhận và giữ nguyên nội dung Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 385/QĐ-UBND ngày 14/02/2020 của Chủ tịch UBND huyện L là đúng quy định của pháp luật.

Qua kiểm tra rà soát hồ sơ giải quyết đơn khiếu nại của bà Đ thì việc Chủ tịch UBND huyện L giải quyết (lần đầu) tại Quyết định số 385/QĐ-UBND ngày 14/02/2020 và Chủ tịch UBND tỉnh Đ giải quyết (lần hai) tại Quyết định số 2227/QĐ-UBND ngày 01/7/2021 là đúng quy định của Luật Khiếu nại năm 2011 và Luật Đất đai năm 2013. Đề nghị Toà án bác đơn khởi kiện của bà Đ về việc yêu cầu huỷ Quyết định số 385/QĐ-UBND và Quyết định số 2227/QĐ-UBND nêu trên.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai trình bày:

Căn cứ Quyết định số 385/QĐ-UBND ngày 14/02/2020 của Chủ tịch UBND huyện L về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thị Đ cư ngụ tại xã B (lần đầu) và Quyết định số 2227/QĐ-UBND ngày 01/7/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh Đ về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thị Đ cư ngụ tại xã B (lần 2), kết luận:

Khu đất diện tích 2.483,5m² thuộc thửa đất số 274, tờ bản đồ địa chính số 28 xã B, huyện L có nguồn gốc là đất nghĩa địa từ trước năm 1975, các hộ dân sử dụng khu đất này để chôn cất người chết. Theo sổ mục kê đất đai được Sở Địa chính xác nhận ngày 06/4/2000, thể hiện thửa đất số 274 nêu trên là đất công do UBND xã B quản lý, sử dụng vào mục đích là đất nghĩa địa và theo Sổ mục kê đất đai được Sở T5 xác nhận ngày 20/12/2011 thể hiện là đất công do UBND xã quản lý.

Bà Nguyễn Thị Đ cho rằng khu đất diện tích 2.483,5m² thuộc thửa đất số 274 nêu trên có nguồn gốc do bà Đỗ Thị H5 (là vợ thứ 2 của ông Nguyễn Văn M - là bà ngoại kế của bà Đ) khai phá từ trước ngày giải phóng đất nước (năm 1975) và cho lại bà Đ (việc cho đất chỉ nói miệng, không làm giấy tờ) để canh tác, sử dụng từ năm 1986 đến năm 2011 (hoặc 2012), để yêu cầu được xem xét cấp giấy CNQSDĐ, tuy nhiên, việc sử dụng đất của bà Đỗ Thị H5 trước đây và sau này bà Nguyễn Thị Đ (nếu có theo như nội dung bà Đ trình bày) đều không thực hiện kê khai, đăng ký loại đất mà bà H5, bà Đ sử dụng vào sổ địa chính của Nhà nước và chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận là người quản lý sử dụng đất hợp pháp theo quy định tại điểm 1 và điểm 2, mục IV của Quyết định số 201-CP ngày 01/7/1980 của Hội đồng Chính phủ.

Quá trình sử dụng đất, gia đình bà Đ chỉ kê khai đăng ký quyền sử dụng đối với thửa đất số 323, tờ bản đồ số 9 xã B và đã được UBND huyện L cấp giấy CNQSDĐ số K 434907 ngày 09/9/1998 cho ông Trần Viết V (chồng bà Đ). Gia đình bà Đ không thực hiện kê khai đăng ký quyền sử dụng đối với thửa đất 29, tờ bản đồ số 9 xã B (nay thuộc thửa đất số 274, tờ bản đồ địa chính số 28 xã B) và không có giấy tờ, chứng cứ có tính pháp lý để chứng minh là người sử dụng đất hợp pháp đối với diện tích 2.483,5m² thuộc thửa 274 nêu trên theo của pháp luật.

Căn cứ Điều 1 Luật Đất đai năm 1987 và Luật Đất đai năm 1993; quy định tại Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 (trước đây) và quy định hiện tại các Điều 100, Điều 101 Luật Đất đai năm 2013 thì việc bà Đ khiếu nại đề nghị được cấp giấy CNQSDĐ đối với diện tích 2.483,5m² thuộc thửa 274 nêu trên là không đủ điều kiện xem xét theo quy định của pháp luật về đất đai. Ủy ban nhân dân huyện L không xem xét cấp giấy CNQSDĐ cho bà Đ đối với diện tích 2.483,5m² thuộc thửa 274 là đúng quy định pháp luật.

Về nội dung bà Đ trình bày tại buổi đối thoại ngày 08/01/2021 cho rằng khu đất này là đất nghĩa địa do UBND xã quản lý, nhưng UBND huyện L và UBND xã B lại thực việc hoán đổi sang vị trí khác cho bà Đ, như vậy chứng tỏ phần đất này là của gia đình bà Đ là không đúng, bởi lẽ:

Theo báo cáo của UBND huyện L tại Văn bản số 55/BC-UBND ngày 18/02/2021 thể hiện: Thực hiện theo ý kiến của Ban Nội chính Tỉnh ủy tại Văn bản số 317-BC/BNCTU ngày 08/11/2017 về việc xử lý đơn của bà Nguyễn Thị Đ, UBND huyện L đã thực hiện tổ chức làm việc với bà Đ vào ngày 06/02/2018 để vận động, giải thích liên quan đến việc giao đất khác cho bà Đ là để hỗ trợ cho gia đình bà Đ thuộc đối tượng chính sách (là theo ý kiến của Ban Nội chính Tỉnh ủy), chứ không phải thực hiện hoán đổi vị trí đất thuộc thửa đất số 274, tờ bản đồ số 28 xã B sang vị trí khác cho gia đình bà Đ.

Như vậy, UBND huyện L và UBND xã B chỉ thực hiện làm việc với bà Đ để rà soát giao đất cho gia đình theo ý kiến của Ban Nội chính Tỉnh ủy, vì gia đình bà Đ thuộc đối tượng chính sách, chứ không phải thực hiện việc hoán đổi đất cho gia đình bà Đ. Việc bà Đ cho rằng UBND huyện và UBND xã B đề nghị bà hoán đổi vị trí thửa đất số 274, tờ bản đồ địa chính số 28 xã B sang vị trí khác là không đúng.

Chủ tịch UBND huyện L ban hành Quyết định số 285/QĐ-UBND ngày 14/02/2020 giải quyết không công nhận nội dung khiếu nại của bà Đ về việc không cấp giấy CNQSDĐ thửa 274 là đúng quy định pháp luật.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 35/2023/HC-ST ngày 17 tháng 08 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, quyết định:

Căn cứ: Điều 3, 30, 32, 115, 157, 158, 191, 193, 206 và Điều 348 Luật Tố tụng hành chính; Điều 100, 101, 204 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 20, 21 và 70 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ,

Tuyên xử:

Bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ về việc “khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai về trường hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giải quyết khiếu nại”, đối với yêu cầu hủy Quyết định số 385/QĐ-UBND ngày 14/2/2020 của Chủ tịch UBND huyện L về việc giải quyết đơn khiếu nại của bà Nguyễn Thị Đ (lần đầu) và Quyết định số 2227/QĐ-UBND ngày 01/7/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh Đ về việc giải quyết đơn khiếu nại của

bà Nguyễn Thị Đ (lần hai) và công nhận cho bà được quyền sử dụng phần đất nêu trên và xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 2.483,5m² thuộc thửa đất số 274, tờ bản đồ địa chính số 28 xã B.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 28/8/2023, người khởi kiện, bà Nguyễn Thị Đ kháng cáo toàn bộ bản án hành chính sơ thẩm.

Tại phiên tòa, người khởi kiện giữ nguyên kháng cáo và trình bày:

Nguồn gốc diện tích đất là của bà H5 (bà ngoại kế bà Đ) khai phá trước năm 1975. Bà H5 sử dụng đến năm 1986 sau đó để lại cho bà Đ. Việc cho không có giấy tờ, chỉ cho bằng miệng. Gia đình bà không đăng ký đất đai do khi đó khó khăn sợ phải đóng thuế cao, đến khi UBND xã B thông báo nằm trong gia đình chính sách bà mới đăng ký. Bà có đăng ký nhưng địa chính ở xã báo chờ để có đợt đăng ký bổ sung.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện trình bày:

Về việc bà Đ có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất thì trong báo cáo số 740 ngày 26/11/2020 của Sở T5 đã xác định là đất của bà H5 cho bà Đ. Trong quá trình giải quyết khiếu nại, cơ quan chức năng và bản án sơ thẩm cho rằng không có giấy tờ theo quy định tại Điều 100 Luật Đất đai 2013 để chứng minh nguồn gốc đất là có sai sót, vì chính cơ quan chức năng đã xác nhận phần đất này do bà Đ sử dụng trong một thời gian dài.

Ủy ban nhân dân xã xác định là đất nghĩa địa thuộc nhà nước quản lý là căn cứ quy hoạch năm 1999. Tuy nhiên, trong Báo cáo số 740 thì UBND tỉnh xác nhận phần đất này UBND xã B quy hoạch nhưng không quản lý sử dụng, người quản lý sử dụng đất là bà Đ. Ngoài ra, căn cứ trình bày của người làm chứng thì xác định 5 ngôi mộ là của gia đình ông Nguyễn Ngọc A (cán bộ xã) nhưng ông A không xác định được có phải mộ của gia đình mình hay không. Trong khi, UBND xã cũng không xác định được nguồn gốc đất nghĩa địa này có từ đâu.

Về việc kê khai đăng ký quyền sử dụng đất: Trong báo cáo số 740 xác định năm 2013 khi bà Đ đăng ký kê khai thì UBND xã không tiếp nhận hồ sơ. Lời trình bày này của bà Đ có xác nhận của các hộ dân. Tài liệu này không được cấp sơ thẩm đánh giá, thực tế bà Đ có đi đăng ký nhưng UBND đã làm kế hoạch nhưng không tổ chức thực hiện. Ngoài ra, trong hồ sơ thể hiện việc UBND xã đưa những người có nghĩa vụ với đất để khiếu nại việc bà Đ lấn chiếm đất nhưng trong số người đó có ông V1 đã xác định rằng đơn này do người khác nhờ ông ký tên, ông không biết đất này của ai. Như vậy, chứng cứ mà UBND xã đưa ra để xác định nguồn gốc đất năm 1999 nhưng mộ thì có từ năm 1986. Việc sử dụng đất của bà Đ có người làm chứng xác nhận.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đánh giá lại chứng cứ chứng minh nguồn gốc đất của bà Đ và sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đ.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện trình bày:

Những nội dung người khởi kiện nêu ra đã được xem xét trong quá trình giải quyết đơn khiếu nại của bà Đ. Sau khi Tòa án xét xử sơ thẩm, UBND huyện đã có ý kiến và cung cấp tài liệu chứng minh gửi cho Tòa án nên đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND tỉnh Đ trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các luật sư cho rằng trong báo cáo số 740 của UBND tỉnh Đ đã xác định nguồn gốc của bà Đ là không đúng mà nội dung nêu trên chỉ là phần tóm tắt ý kiến của bà Đ trong báo cáo, chứ không có nội dung xác minh như trên. Sở T5 đã xử lý rất nhiều lần và khẳng định nguồn gốc là đất nghĩa địa.

Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, các thành viên Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ và chấp hành đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Đ làm trong hạn luật định, đúng hình thức.

Về nội dung: Theo tài liệu hồ sơ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa thì bà Đ không cung cấp được giấy tờ nào để chứng minh nguồn gốc diện tích đất, thực tế cũng không có căn cứ chứng minh có quá trình quản lý sử dụng đất.

Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đ là có căn cứ. Bà Nguyễn Thị Đ kháng cáo nhưng không có căn cứ chứng minh nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính, không chấp nhận kháng cáo của bà Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai thụ lý và giải quyết vụ án là đúng quy định tại Điều 30, Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính. Bà Nguyễn Thị Đ kháng cáo theo đúng quy định nên vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tòa án cấp sơ thẩm xác định các quyết định hành chính bị khiếu kiện, gồm: Quyết định số 385/QĐ-UBND ngày 14/2/2020 của UBND huyện L và Quyết định số 2227/QĐ-UBND ngày 01/7/2021 của UBND tỉnh Đ là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính; đồng thời, khi giải quyết vụ án đã xem xét các quyết định hành chính có liên quan là đúng quy định tại Điều 193 Luật Tố tụng hành chính.

Về nội dung:

[3] Về trình tự, thủ tục và thẩm quyền ban hành quyết định hành chính bị khiếu kiện: Tòa án cấp sơ thẩm xác định các quyết định hành chính bị khiếu kiện ban hành đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền là đúng quy định tại Điều 18, Điều

21 Luật Khiếu nại năm 2011 là có căn cứ.

[4] Về nội dung quyết định:

[4.1] Theo sổ mục kê đất đai năm 1999 do UBND xã B cung cấp thì thửa đất số 29, tờ bản đồ số 09 là đất nghĩa địa do UBND xã B quản lý. Tại Báo cáo số 20/BC-UBND ngày 12/5/2006 và Báo cáo số 27/BC-UBND ngày 11/3/2016 của UBND xã B, có nội dung: Diện tích 2.294m² thuộc thửa số 29, tờ bản đồ số 9 xã B (theo tài liệu mới thuộc thửa số 274, tờ bản đồ số 28, diện tích 2.483,5m²) có nguồn gốc là đất nghĩa địa từ trước năm 1975 và bản đồ quy hoạch xã B phê duyệt năm 2001 đến nay là quy hoạch đất nghĩa địa; Thửa đất này là đất công do UBND xã đang quản lý.

[4.2] Kết quả xác minh thì những người làm chứng (kể cả người làm chứng do bà Đ yêu cầu) thì hầu hết đều cho rằng nguồn gốc đất bà Đ xin cấp giấy CNQSDĐ là đất nghĩa địa, gia đình bà Đ không sử dụng phần đất này.

[4.3] Bà Đ cho rằng nguồn gốc đất trên là của ông Nguyễn Văn M, bà Đỗ Thị H5 khai hoang trước giải phóng (năm 1975) và sử dụng đến năm 1986 thì giao lại cho bà sử dụng liên tục đến năm 2012 nhưng không có căn cứ chứng minh. Ngoài ra, năm 1995, bà Đ chỉ kê khai đăng ký và đã được nhà nước cấp giấy CNQSDĐ đối với thửa đất ở hiện nay mà không kê khai đăng ký đối với thửa số 29, tờ bản đồ số 09. Việc bà Đ cho rằng do gia đình khó khăn, sợ đóng thuế cao nên đã không kê khai đăng ký đối với thửa số 29 là không phù hợp.

[4.4] Ngoài nội dung trình bày là có đề nghị đăng ký đất đai nhưng không được UBND xã B chấp thuận thì bà Đ không có căn cứ chứng minh nội dung trên và những ngôi mộ trên thửa đất này cũng không phải là căn cứ xác định bà Đ có quyền sử dụng thửa đất.

[4.5] Khoản 2 Điều 101 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”.

Khoản 5 Điều 20 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ quy định quy định: "Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định vào mục đích thuộc nhóm đất nông nghiệp từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004, nay được Uỷ ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp thì được công nhận quyền sử dụng đất”.

Khoản 1 Điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ quy định: "Sử dụng đất ổn định là việc sử dụng đất liên tục vào một mục đích nhất định kể từ thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích đó đến thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,..”

Đối chiếu quy định trên thì bà Đ không đủ điều kiện cấp giấy CNQSDĐ đối với diện tích 2.294m², thửa đất số 29, tờ bản đồ số 09 xã B (theo tài liệu mới là thửa số 274, tờ bản đồ số 28, diện tích 2.483,5m²).

[4.6] Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đ là có căn cứ. Bà Đ kháng cáo nhưng không có căn cứ chứng minh. Vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất ý kiến của Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bà Đ được miễn án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Điều 18, Điều 21 Luật Khiếu nại năm 2011; các Điều 100, 101, 204 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Đ.
  2. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 35/2023/HC-ST ngày 17 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
  3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ về việc:
    1. Yêu cầu hủy Quyết định số 385/QĐ-UBND ngày 14/2/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L về việc giải quyết đơn khiếu nại của bà Nguyễn Thị Đ (lần đầu);
    2. Yêu cầu hủy Quyết định số 2227/QĐ-UBND ngày 01/7/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ về việc giải quyết đơn khiếu nại của bà Nguyễn Thị Đ (lần hai);
    3. Yêu cầu Công nhận và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 2.483,5m² thuộc thửa đất số 274, tờ bản đồ địa chính số 28 xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
  4. Án phí: Miễn toàn bộ án phí hành chính sơ thẩm và phúc thẩm cho bà Nguyễn Thị Đ.
  5. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Cục THADS tỉnh Đồng Nai;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP (5), HS (2) (LTTH)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phan Đức Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 744/2024/HC-PT ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai về trường hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giải quyết khiếu nại

  • Số bản án: 744/2024/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai về trường hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giải quyết khiếu nại
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger