Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 744/2023/HC-PT

Ngày 28 - 8 - 2023

Khiếu kiện quyết định hành chính

trong lĩnh vực quản lý đất đai

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Chung Văn Kết

Các Thẩm phán:Ông Cao Văn Tám

Bà Lê Thúy Cầu

- Thư ký phiên tòa: Ông Thới Ngọc Bắc - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án thụ lý số 68/2023/TLPT-HC ngày 09 tháng 02 năm 2023 về “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 84/2022/HC-ST ngày 29 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3875/2023/QĐ-PT ngày 02 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Người khởi kiện:

    1. Ông Danh Đ, sinh năm 1960. Nơi cư trú: Ấp H, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt)

      Người đại diện theo ủy quyền của ông Danh Đ1: Ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 1968. Nơi cư trú: số F, đường B, khu phố D, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

    2. Ông Danh C, sinh năm 1964.

      Người đại diện theo ủy quyền của ông Danh C: Bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1977 (có mặt)

      Cùng nơi cư trú: ấp Hòa Thuận, xã Vĩnh Hòa Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang

  2. Người bị kiện: (xin vắng mặt).

    1. Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Kiên Giang.

      Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Quang Đ2, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C.

    2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Kiên Giang.

      Cùng địa chỉ: khu phố M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Kiên Giang.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    1. Ông Lưu Thành T1. Nơi cư trú: số H, đường L, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

      Người đại diện theo ủy quyền cho ông Lưu Thành T1: Ông Hoàng Quốc V, sinh năm 1958. Nơi cư trú: số A, đường N, phường V, Tp ., tỉnh Kiên Giang (có mặt).

    2. Bà Bùi Thị M, sinh năm 1967. Địa chỉ: số H, đường L, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

    3. Ngân hàng N1.

      Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Thanh H, chức vụ: Phó Giám đốc Chi nhánh - Ngân hàng N1 – Chi nhánh K; Địa chỉ: Số G khu phố M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Kiên Giang (có mặt).

  4. Người kháng cáo: Người khởi kiện ông Danh Đ1, ông Danh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ kiện, người khởi kiện ông Danh Đ1, ông Danh C và người đại diện ông Nguyễn Tấn T, bà Thị Hồng N trình bày:

Ông Danh Đ và ông Danh C cùng một số hộ dân khác là những người có đất nông nghiệp trồng lúa tại ấp H, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang.Trước đây các hộ dân sử dụng lối đi là bờ kênh thủy lợi công cộng giáp với Quốc lộ F để ra ruộng canh tác.

Năm 2017 do phần đất con kinh thủy lợi bị rào chắn các hộ dân không còn lối đi ra đồng, lúc này các hộ dân mới phát hiện phần đất kênh thủy lợi đã được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lưu Thành T1 nên làm đơn khiếu nại.

Ngày 09/5/2018 Chủ tịch UBND huyện C ra quyết định số 1648/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại đối với ông Danh Đ1, ông Danh C.

Tại quyết định này Chủ tịch UBND huyện C thừa nhận có con kênh thủy lợi chiều ngang cặp Quốc lộ F là 4,1m, chiều ngang sau 4,8m, chiều dài 86,7m, tại ấp H, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang. Năm 2007 ông Lưu Thành T1 có làm đơn xin đất cất nhà ở, vì hoàn cảnh gia đình khó khăn không có chỗ ở. Sau khi xem xét UBND huyện C đã ra quyết định số 684/QĐ-UBND cấp diện tích đất kênh thủy lợi cho ông Lưu Thành T1 và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H001386 ngày 26/9/2007, thửa đất số 2151, tờ bản đồ số 10, diện tích 385 m², loại đất cây lâu năm khác (vì xét thấy rằng phần đất này không còn sử dụng phục vụ cho nông nghiệp nữa).

Các hộ dân cho rằng UBND huyện C cấp đất cho ông T1 làm nhà thì phải xem xét hợp lý theo qui định của pháp luật đất đai chứ không thể chỉ theo ý kiến của thường vụ huyện ủy C. Từ ngày cấp đất đến thời điểm giải quyết khiếu nại là 10 năm đất vẫn để trống, điều này chứng minh ông T1 không có nhu cầu sử dụng đất.

Diện tích đất cấp cho ông T1, Chủ tịch UBND huyện C cho rằng không còn sử dụng để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp để làm căn cứ cấp đất cho ông T1 là không hợp lý vì diện tích đất này vẫn phục vụ làm lối đi chung của các hộ dân, vẫn phục vụ cho đời sống sinh hoạt của người dân, phục vụ vận chuyển liên quan đến sản xuất nông nghiệp.

Nay, ông Danh Đ1, ông Danh C yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Hủy quyết định số 684/QĐ-UBND ngày 25/6/2007 của UBND huyện C và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H0001368, thửa số 2151, tờ bản đồ số 10, diện tích 385 m² do UBND huyện C cấp cho ông Lưu Thành T1 ngày 26/9/2007.

  • Hủy quyết định giải quyết khiếu nại số 1648/QĐ-UBND ngày 09/5/2018 của Chủ tịch UBND huyện C.

* Ngày 09/8/2018 UBND huyện C có văn bản số 362/UBND-TNMT có ý kiến đối với đơn khởi kiện của ông Danh Đ1, ông Danh C như sau:

Năm 2007, ông Lưu Thành T1 có làm đơn xin cấp đất để cất nhà ở. Lý do, hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có đất cất nhà và đang sống tạm tại khu tập thể Công an tỉnh K. Được sự thống nhất của Ban Thường vụ huyện ủy giao cho UBND huyện xem xét giải quyết ( kèm theo Biên bản số 13-TrBB/VP 18/9/2007 Văn phòng Huyện ủy, V/v Trích biên bản họp của Ban Thường vụ Huyện ủy vào ngày 08/6/2007).

Ngày 25/6/2007, UBND huyện ban hành quyết định số 684/QĐ-UBND cấp phần đất kênh thủy lợi cho ông Lưu Thành T1 và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 001386 ngày 26/9/2007, thửa số 2151, tờ bản đồ số 10, diện tích 385 m², loại đất lâu năm khác (vì xét thấy rằng phần đất này còn sử dụng phục vụ cho nông nghiệp nữa).

Việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lưu Thành T1 là đúng theo qui định tại khoản 2 Điều 37, khoản 1 Điều 49 và khoản 2 Điều 52 Luật đất đai năm 2003. Nên Quyết định số 1648/QĐ-UBND ngày 09/5/2018 của Chủ tịch UBND huyện C về việc giải quyết khiếu nại là đúng qui định pháp luật.

Do đó, UBND huyện C không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.

* Trong quá trình giải quyết vụ kiện những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có ý kiến như sau:

  • Ông Lưu Thành T1 khẳng định việc UBND huyện C giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông là đúng qui định của Luật đất đai. Đất được giao thuộc sở hữu nhà nước, không có ai tranh chấp, không phải đường đi công cộng. Do đó, đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Danh Đ1, ông Danh C.

  • Ngân hàng N1- Chi nhánh K xác định: Ngày 03/9/2020, ông Lưu Thành T1 và A Chi nhánh huyện C - Kiên Giang (ngày là A Chi nhánh K) có ký hợp đồng tín dụng số 7709-LAV-202001479. Nội dung ngân hàng cho ông T1 vay số tiền 800.000.000 đồng, tài sản bảo đảm nợ vay là quyền sử dụng đất số AÐ340977, thửa 2151, tờ bản đồ số 10, diện tích 385 m² tại ấp H, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang. Chi nhánh Ngân hàng cho vay, nhận thế chấp, đăng ký thế chấp, đăng ký giao dịch đảm bảo tài sản nêu trên đều đúng theo qui định của pháp luật và qui trình qui định của ngành. Đề nghị Tòa án bác đơn kiện của ông Danh Đ1, ông Danh C.

  • Bà Bùi Thị M không có văn bản trình bày ý kiến.

* Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 84/2022/HC-ST ngày 29 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, quyết định:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Danh Đ1, ông Danh C:

    Hủy quyết định số 1648/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND huyện C.

  2. Đình chỉ yêu cầu của ông Danh Đ1, ông Danh C về việc hủy quyết định số 684/QĐ-UBND ngày 25/9/2007 của UBND huyện C và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H001368 ngày 26/9/2007 của UBND huyện C cấp cho ông Lưu Thành T1.

Ngoài ra, Án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

Ngày 12/7/2022, ông Danh Đ1, ông Danh C có đơn kháng cáo đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Người khởi kiện giữ nguyên nội dung kháng cáo.

  • Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có quan điểm: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

[1]. Về tố tụng:

Tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng đã được triệu tập hợp lệ, có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 157 và Điều 158 Luật Tố tụng Hành chính, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đương sự theo quy định.

[2]. Xét kháng cáo của người khởi kiện ông Danh Đ1, ông Danh C, thấy rằng:

[2.1]. Đối với Quyết định giải quyết khiếu nại số 1648/QĐ-UBND ngày 09/5/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C.

Theo sơ đồ địa chính thể hiện: Phần diện tích đất do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Lưu Thành T1 tại thời điểm năm 2007 có một phần là con kênh thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp cho các hộ dân phía trong.

Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 27/02/2020 thì có 04 hộ dân bị ảnh hưởng trực tiếp (Trong danh sách 13 hộ dân).

Tại Quyết định giải quyết khiếu nại số 1648 thì diện tích đất Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông T1 thời điểm năm 2007 có thể hiện là đất thủy lợi nhưng trong Quyết định cấp đất cho ông T1 xác định là đất cây lâu năm là không đúng theo quy định pháp luật đất đai năm 2003.

Vì vậy, Án sơ thẩm nhận định Quyết định 1648 giải quyết khiếu nại của ông Danh Đ1, ông Danh C có sai sót về mặt hình thức, nội dung nên tuyên hủy Quyết định nêu trên là đúng.

[2.2]. Xét tính hợp pháp và tính có căn cứ đối với quyết định cấp đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lưu Thành T1, thấy rằng:

Trong đơn xin cấp đất của ông T1 và chủ trương của Chính quyền địa phương lúc bấy giờ là do hoàn cảnh gia đình ông T1 khó khăn không có đất cất nhà ở nên đồng ý giao đất không thu tiền sử dụng đất. Nhưng trên thực tế, từ khi giao đất (năm 2007) đến nay ông T1 không có cất nhà ở, mà có chổ ở khác tại thị trấn M, huyện C, tỉnh Kiên Giang (diện tích 1.050m²). Trong khi các hộ dân yêu cầu được sử dụng phần đất này làm lối đi, thuận tiện cho việc sản xuất nông nghiệp là chính đáng.

Mặc khác, việc cấp diện tích đất cho ông T1 thời điểm năm 2007 là đất thủy lợi nhưng trong Quyết định cấp đất cho ông T1 xác định là đất cây lâu năm là không đúng đối tượng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc phục vụ sản suất nông nghiệp của các hộ phía trong.

Tuy nhiên, Án sơ thẩm nhận định: “Do Quyết định giải quyết khiếu nại bị hủy nên cần phải đợi kết quả giải quyết khiếu nại lại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C. Nếu Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C chưa giải quyết khiếu nại lại mà Tòa án đã xem xét tính hợp pháp của quyết định cấp đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị khiếu nại là làm mất quyền giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C”. Nhận định như trên là không phù hợp. Đồng thời quyết định đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Danh Đ1, ông Danh C với lý do chưa đủ điều kiện khởi kiện là không đúng; không xem xét, đánh giá tính hợp pháp, tính có căn cứ của việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T1 là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 193 của Bộ luật Tố tụng hành chính năm 2015; ảnh hưởng đến việc xem xét, giải quyết toàn diện, triệt để vụ án.

Do án sơ thẩm chưa xem xét, đánh giá tính hợp pháp và tính có căn cứ đối với các quyết định hành chính cấp đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị khởi kiện nên cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Vì vậy, cần hủy bản án hành chính sơ thẩm giao hồ sơ về Tòa sơ thẩm giải quyết lại theo quy định pháp luật.

[3]. Về án phí hành chính: Do hủy án sơ thẩm nên các đương sự không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 241 của Bộ luật Tố tụng hành chính; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Hủy Bản án hành chính sơ thẩm số 84/2022/HC-ST ngày 29 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa sơ thẩm xét xử lại theo thủ tục chung.

  2. Án phí hành chính phúc thẩm các đương sự không phải chịu; Giữ lại phần dự nộp án phí hành chính sơ thẩm để tiếp tục giải quyết lại vụ án. H1 lại cho ông D Cưỡng 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0001957 ngày 19/8/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.

  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Kiên Giang;
  • - NKK;
  • - NBK;
  • - NCQL&NVLQ;
  • - Lưu: HS, VP, 17bTNB.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chung Văn Kết

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thúy Cầu

Cao Văn Tám

Chung Văn Kết

6

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 744/2023/HC-PT ngày 28/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 744/2023/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger