Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 743/2023/HS-ST

Ngày 29 - 12 - 2023

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Bảo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Anh Dũng

Bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Võ Hồng Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 721/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 710/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 1349/2023/QĐST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Hải L, sinh năm 2000, tại Hà Nội;

Nơi cư trú: G, khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Tiếp thị điện thoại; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hải H, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Tuyết N, sinh năm 1977; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo chưa có vợ con.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/7/2023, đến ngày 20/7/2023 được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm số 1171 ngày 20/7/2023.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Công ty Cổ phần T4;

Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Bà Chu Thị H1, sinh năm 1990;

Địa chỉ: Tòa nhà M, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Hồ Sỹ Đ, sinh năm 1992; địa chỉ: I đường N, khu phố D, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
  2. Nguyễn Đình H2, sinh năm 1992; địa chỉ: B đường B, tổ E, khu phố A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; (vắng mặt)
  3. Nguyễn Lục Q, sinh năm 1989; địa chỉ: Số C, Khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; (vắng mặt)
  4. Nguyễn Hoàng L1, sinh năm 1988; địa chỉ: A đường N, Khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; (vắng mặt)
  5. Lường Công T, sinh năm 1993; địa chỉ: 3, khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; (vắng mặt)
  6. Nguyễn Nhật T1, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ B, Khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; (vắng mặt)
  7. Ông Trần Hải H, sinh năm 1972 (có mặt)
  8. Bà Nguyễn Tuyết N, sinh năm 1977 (có mặt)

Cùng cư trú: G26, khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Hải L là nhân viên tiếp thị điện thoại của Công ty Cổ phần "Green Speed" có địa chỉ tại số A Đ, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Từ ngày 22/6/2023, L được Công ty phân công đến cửa hàng “Điện Máy X” (thuộc công ty Cổ phầT4 “Thế Giới Di Động”) chi nhánh B1 tại số G, Quốc lộ E, khu phố B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để tiếp thị điện thoại nhãn hiệu Xiaomi. Trong quá trình làm việc, L phát hiện chìa khoá của 02 tủ trưng bày điện thoại trong cửa hàng thường được để tại bàn tư vấn khách hàng và không có người trông coi nên L đã nảy sinh ý định trộm cắp điện thoại để đem đi cầm lấy tiền tiêu xài và trả nợ cá nhân. Lợi dụng lúc nhân viên trong cửa hàng không để ý L lén lấy chìa khoá mở tủ trưng bày và lấy trộm điện thoại giấu vào trong túi quần rồi hết giờ làm việc sẽ mang các điện thoại lấy trộm được đến các tiệm cầm đồ trên địa bàn thành phố B để cầm. Từ ngày 24/6/2023 đến ngày 09/7/2023, L đã 12 lần lấy trộm điện thoại trong cửa hàng, cụ thể như sau:

Lần 1: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 24/6/2023, lợi dụng lúc nhân viên trong cửa hàng sơ hở thì L đã lén lấy chìa khóa mở tủ trưng bày số 02 và lấy trộm 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi 12T rồi cất giấu vào trong túi quần. Đến 21 giờ cùng ngày, L điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 60F2-860.19 mang chiếc điện thoại trên đến tiệm cầm đồ “Đại Phát 88” tại số I, khu phố A, phường A, thành phố B cầm cho anh Hồ Sỹ Đ (là nhân viên của tiệm) với giá 3.200.000 đồng (Ba triệu hai trăm nghìn đồng). Sau đó, L sử dụng số tiền trên trả nợ cho đối tượng Hoàng B (chưa rõ nhân thân, địa chỉ).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 386/KL-HĐĐGTS ngày 14/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi 12T trị giá 5.620.500 đồng (Năm triệu sáu trăm hai mươi nghìn năm trăm đồng)”.

Lần 2: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 25/6/2023, lợi dụng lúc nhân viên trong cửa hàng sơ hở thì L đã lén lấy chìa khóa mở tủ trưng bày số 02 và lấy trộm 01 (một) điện thoại di động hiệu S A73 rồi cất giấu vào trong túi quần. Đến 21 giờ cùng ngày, L điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 60F2-860.19 mang chiếc điện thoại trên đến tiệm cầm đồ “Nguyễn Quốc T2” tại tổ E, khu phố A, phường A, thành phố B cầm cho anh Nguyễn Đình H2 (là nhân viên của tiệm) với giá 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Sau đó, L sử dụng số tiền trên trả nợ cho đối tượng Hoàng B (chưa rõ nhân thân, địa chỉ).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 386/KL-HĐĐGTS ngày 14/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 (một) điện thoại di động S A73 trị giá 4.905.000 đồng (Bốn triệu chín trăm lẻ năm nghìn đồng)”.

Lần 3: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 26/6/2023, L tiếp tục lén lấy chìa khóa mở tủ trưng bày số 02 lấy trộm 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi note 11 Pro rồi giấu vào trong túi quần. Đến 18 giờ cùng ngày, L điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 60F2-860.19 mang chiếc điện thoại trên đến tiệm cầm đồ “Quốc Lực” tại số I, khu phố D, phường T, thành phố B do anh Nguyễn Lục Q làm chủ và cầm cho anh Q với giá 2.300.000 đồng (Hai triệu ba trăm nghìn đồng). Sau đó, L sử dụng số tiền trên trả nợ cho đối tượng Hoàng B (chưa rõ nhân thân, địa chỉ).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 386/KL-HĐĐGTS ngày 14/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi note 11Pro trị giá 3.064.090 đồng (Ba triệu không trăm sáu mươi bốn nghìn không trăm chín mươi đồng)".

Lần 4: Khoảng 19 giờ ngày 28/6/2023, L lén lấy chìa khóa mở tủ trưng bày số 02 và lấy trộm 01 (một) điện thoại di động hiệu S A53 giấu vào trong túi quần rồi điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 60F2-860.19 mang chiếc điện thoại trên đến tiệm cầm đồ “Đại Phát 88” tại số I, khu phố A, phường A, thành phố B và cầm cho anh Hồ Sỹ Đ (là nhân viên của tiệm) với giá 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng). Sau đó, L quay trở lại điều khiển xe mô tô cửa hàng để tiếp tục trộm cắp điện thoại.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 386/KL-HĐĐGTS ngày 14/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 (một) điện thoại di động hiệu S A53 trị giá 4.086.900 đồng (Bốn triệu không trăm tám mươi sáu nghìn chín trăm đồng)".

Lần 5: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 28/6/2023, sau khi bán xong chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A53 thì L quay về cửa hàng giả vờ làm việc rồi tiếp tục lén lấy chìa khóa mở tủ trưng bày số 02 và lấy trộm 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi 12 giấu vào trong túi quần. Sau đó L tiếp tục lấy chìa khóa mở tủ trưng bày số 01 để lấy trộm điện thoại. Do trong tủ số 1 trưng bày hàng mới còn nguyên tem niêm phong nên L đã dùng lưỡi dao kim loại có sẵn trong tủ để rạch tem niêm phong trên hộp 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S23 Ultra mở hộp rồi lấy trộm chiếc điện thoại trên giấu vào trong túi quần. Đến 21 giờ cùng ngày, L điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 60F2- 860.19 mang chiếc điện thoại hiệu Samsung Galaxy S23 Ultra đến tiệm cầm đồ “Đại Phát 88” và cầm cho anh Hồ Sỹ Đ với giá 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng). Sau đó, L tiếp tục đem chiếc điện thoại di động hiệu Xiaomi 12 đến tiệm cần đồ “Hoàng N1” cầm cho anh Nguyễn Hoàng L1, ngụ tại số A đường N, khu phố B, phường T, thành phố B làm chủ với giá 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng). Toàn bộ số tiền trên L1 trả nợ cho đối tượng Hoàng B (chưa rõ nhân thân, địa chỉ).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 386/KL-HĐĐGTS ngày 14/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 (một) điện thoại di động hiệu S S23 Ultra và 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi 12 có tổng trị giá 33.537.727 đồng (Ba mươi ba triệu năm trăm ba mươi bảy nghìn bảy trăm hai mươi bảy đồng)".

Lần 6: Khoảng 19 giờ ngày 29/6/2023, L1 đã lén lấy chìa khóa mở tủ trưng bày số 02 và lấy trộm 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaom Redmi note 12 Pro 5G rồi giấu vào trong túi quần. Đến 21 giờ cùng ngày L1 điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 60F2-860.19 mang chiếc điện thoại trên đến tiệm cầm đồ “Đại Phát 88” và cầm cho anh Hồ Sỹ Đ với giá 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm nghìn đồng). Sau đó, L1 sử dụng số tiền trên trả nợ cho đối tượng Hoàng B (chưa rõ nhân thân, địa chỉ).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 386/KL-HĐĐGTS ngày 14/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi note 12Pro 5G trị giá 4.270.500 đồng (Bốn triệu hai trăm bảy mươi nghìn năm trăm đồng)".

Lần 7: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 03/7/2023, L1 đã lén lấy chìa khóa mở tủ trưng bày số 01 và dùng lưỡi dao kim loại có sẵn trong tủ để rạc tem niêm phong trên hộp 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galax S23 Ultra, sau đó L1 mở hộp lấy trộm chiếc điện thoại trong hộp giấu và trong túi quần và đem về cất giấu tại nhà ở số G, khu phố G, phường T, thành phố B.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 386/KL-HĐĐGTS ngày 14/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 (một) điện thoại di động hiệu S S23 Ultra trị giá 25.360.000 đồng (Hai mươi lăm triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng)”.

Lần 8: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 04/7/2023, L1 đã lén lấy chia khóa mở tủ trưng bày số 01 và dùng lưỡi dao kim loại có sẵn trong tủ để rạch tem niêm phong trên hộp 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S22 Ultra rồi lấy trộm chiếc điện thoại giấu vào trong túi quần. Đến 21 giờ cùng ngày, L1 điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 60F2- 860.19 mang chiếc điện thoại đến tiệm cầm đồ “Đại Phát 88” và cầm chiếc điện thoại hiệu S đã lấy trộm ngày 03/7/2023 cho anh Hồ Sỹ Đ với giá 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Sau đó, L1 tiếp tục đem chiếc điện thoại di động hiệu S S22 Ultra đến tiệm cầm đồ “Hoàng N1” và cầm cho anh Nguyễn Hoàng L1 với giá 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng). Toàn bộ số tiền trên L1 đã sử dụng để trả nợ cho đối tượng Hoàng B (chưa rõ nhân thân, địa chỉ).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 386/KL-HĐĐGTS ngày 14/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 (một) điện thoại di động hiệu S S22 Ultra trị giá 14.720.000 đồng (Mười bốn triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng)”.

Lần 9: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 05/7/2023, L1 đã lén lấy chìa khóa mở tủ trưng bày số 01 và dùng lưỡi dao kim loại có sẵn trong tủ rạch tem niêm phong trên hộp 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S23 Ultra rồi lấy trộm chiếc điện thoại giấu vào trong túi quần. Đến 21 giờ cùng ngày, L1 điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 60F2-860.19 mang chiếc điện thoại trên đến tiệm cầm đồ “Đại Phát 88” và cầm cho anh Hồ Sỹ Đ với giá 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng). Sau đó, L1 sử dụng số tiền trên trả nợ cho đối tượng Hoàng B (chưa rõ nhân thân, địa chỉ).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 386/KL-HĐĐGTS ngày 14/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 (một) điện thoại di động hiệu S S23 Ultra trị giá 25.360.000 đồng (Hai mươi lăm triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng)”.

Lần 10: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 06/7/2023, L1 đã lén lấy chìa khóa mở tủ trưng bày số 01 và dùng lưỡi dao kim loại có sẵn trong tủ để rạch tem niêm phong trên hộp 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S22 Ultra rồi lấy trộm chiếc điện thoại giấu vào trong túi quần. Đến 21 giờ cùng ngày, L1 điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 60F2- 860.19 mang chiếc điện thoại trên đến tiệm cầm đồ “Nghĩa Tín 2” tại số B, khu phố F, phường T, thành phố B và cầm cho anh Lường Công T (là nhân viên của tiệm) với giá 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).

Sau đó, L1 sử dụng số tiền trên trả nợ cho đối tượng Hoàng B (chưa rõ nhân thân, địa chỉ).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 386/KL-HĐĐGTS ngày 14/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 (một) điện thoại di động hiệu S S22 Ultra trị giá 14.720.000 đồng (Mười bốn triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng)".

Lần 11: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 07/7/2023, L1 đã lén lấy chìa khóa mở tủ trưng bày số 01 và dùng lưỡi dao kim loại có sẵn trong tủ để rạch tem niêm phong trên hộp 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S22 Ultra rồi lấy trộm chiếc điện thoại giấu vào trong túi quần. Đến 21 giờ cùng ngày, L1 điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 60F2- 860.19 mang chiếc điện thoại trên đến tiệm cầm đồ “Minh Nhật Lộc Phát” tại số I, khu phố B, phường T, thành phố B và cầm cho anh Nguyễn Nhật T1 (là nhân viên của tiệm) với giá 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Sau đó, L1 sử dụng số tiền trên trả nợ cho đối tượng Hoàng B (chưa rõ nhân thân, địa chỉ).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 386/KL-HĐĐGTS ngày 14/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 (một) điện thoại di động hiệu S S22 Ultra trị giá 14.720.000 đồng (Mười bốn triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng)".

Lần 12: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 09/7/2023, L1 đã lén lấy chìa khóa mở tủ trưng bày số 01 và dùng lưỡi dao kim loại có sẵn trong tủ để rạch tem niêm phong trên hộp 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S22 Ultra rồi lấy trộm chiếc điện thoại giấu vào trong túi quần. Đến 21 giờ cùng ngày, L1 điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 60F2- 860.19 mang chiếc điện thoại trên đến tiệm cầm đồ “Minh Nhật Lộc P” và cầm cho anh Nguyễn Nhật T1 (là nhân viên của tiệm) với giá 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Sau đó, L1 sử dụng số tiền trên trả nợ cho đối tượng Hoàng B (chưa rõ nhân thân, địa chỉ).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 386/KL-HĐĐGTS ngày 14/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 (một) điện thoại di động hiệu S S22 Ultra trị giá 14.720.000 đồng (Mười bốn triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng)”.

Ngày 10/7/2023, anh Vũ Trần T3, ngụ tại 5, khu phố D, phường T, thành phố B là quản lý của cửa hàng “Điện Máy X” chi nhánh B1 kiểm kê lại số lượng điện thoại di động trong cửa hàng thì phát hiện bị thiếu mất 13 (mười ba) điện thoại di động nên đã kiểm tra camera và phát hiện L1 là người đã trộm cắp điện thoại. Sau đó, L1 đã đến Công an phường A đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội. Ngày 20/7/2023, L1 bị khởi tố để điều tra, xử lý.

Lời khai bị can tại các bút lục (52-55, 66-72, 74-88);

L2 khai người liên quan tại các bút lục (131-133, 147-152, 154-156, 161-166, 177-181, 194-199, 208-214, 223-226);

Lời khai bị hại tại các bút lục (89-94);

Vật chứng của vụ án:

  • 04 (bốn) điện thoại di động hiệu S S22 Ultra, 03 (ba) điện thoại di động hiệu S S23 Ultra, 01 (một) điện thoại di động hiệu S A53, 01 (một) điện thoại di động hiệu S A73, 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi 121, 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi note 12Pro 5G, 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi 12, 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi note 11Pro đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu hồi và trả lại cho chị Trương Minh C là đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần T4”.
  • 03 (ba) lưỡi dao bằng kim loại mà Trần Hải L sử dụng vào việc phạm tội là tài sản của cửa hàng Đ1 Bến gỗ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho chị Trương Minh C là đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần T4”.
  • 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 60F2- 860.19 của bà Nguyễn Tuyết N là mẹ ruột của Trần Hải L cho L mượn để sử dụng. Do bà N không biết việc L sử dụng xe vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu giữ.
  • 01 USB hiệu Kingston màu đen lưu hình ảnh camera ghi nhận hành vi trộm cắp tài sản của Trần Hải L (lưu trong hồ sơ vụ án).
  • 01 áo thun đen phía sau có in chữ X1 và 01 áo thun màu trắng của bị can Trần Hải L nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho L.

Về trách nhiệm dân sự:

- Bị cáo Trần Hải L và gia đình đã thỏa thuận bồi thường cho Công ty Cổ phần T4 số tiền 139.033.000 đồng (Một trăm ba mươi chín triệu không trăm ba mươi ba đồng) nên đại diện Công ty Cổ phần T4 không có yêu cầu bồi thường gì khác.

- Gia đình của bị cáo Trần Hải L đã thỏa thuận bồi thường cho anh Hồ Sỹ Đ, anh Nguyễn Đình H2, anh Nguyễn Lục Q, anh Nguyễn Hoàng L1, anh Lường Công T và anh Nguyễn Nhật T1.

Tại bản Cáo trạng số: 713/CT-VKSBH ngày 21/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố Trần Hải L về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Hải L phạm tội “Trộm cắp tài sản”; về hình phạt: áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Trần Hải L từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng, quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp nên không xem xét. Đối với 01 USB hiệu Kingston màu đen lưu hình ảnh camera ghi nhận hành vi trộm cắp tài sản của Trần Hải L nên lưu trong hồ sơ vụ án.

Đối với anh Hồ Sỹ Đ, anh Nguyễn Đình H2, anh Nguyễn Lục Q, anh Nguyễn Hoàng L1, anh Lường Công T và anh Nguyễn Nhật T1 đã nhận cầm điện thoại của Trần Hải L nhưng không biết là tài sản do L phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không xử lý hình sự.

Quá trình tranh tụng, bị cáo Trần Hải L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Việc vắng mặt của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử do đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, không có yêu cầu về mặt dân sự và các yêu cầu khác; do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án.

Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 24/6/2023 đến ngày 09/7/2023, tại Công ty cổ phần T4 chi nhánh B1 ở địa chỉ số G, quốc lộ E, khu phố B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Trần Hải L đã có hành vi trộm cắp 12 lần trong tổng cộng 13 điện thoại của Công ty cổ phần T4. Mỗi lần trộm cắp tài sản có giá trị trên 2.000.000 đồng và dưới 50.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản của 13 điện thoại các loại mà bị cáo trộm cắp theo Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự T là 165.084.717đ (một trăm sáu mươi lăm triệu, không trăm tám mươi tư nghìn, bảy trăm mười bảy đồng).

Do đó, Cáo trạng số 713/CT-VKSBH ngày 21/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Trần Hải L về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của Công ty cổ phần T4. Nhằm mục đích muốn có tiền trả nợ, phục vụ cho lợi ích cá nhân mà bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 12 lần là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo cùng gia đình đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Sau khi bị phát hiện bị cáo đã ra đầu thú về hành vi phạm tội của mình, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo hiện là sinh viên trường đại học C1 đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử cân nhắc tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để đảm bảo sự nghiêm minh, khoan hồng của phát luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.

[6] Về vật chứng vụ án và các tình tiết liên quan:

  • 04 (bốn) điện thoại di động hiệu S S22 Ultra, 03 (ba) điện thoại di động hiệu S S23 Ultra, 01 (một) điện thoại di động hiệu S A53, 01 (một) điện thoại di động hiệu S A73, 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi 121, 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi note 12Pro 5G, 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi 12, 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi note 11Pro đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu hồi và trả lại cho chị Trương Minh C là đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần T4; 03 (ba) lưỡi dao bằng kim loại mà Trần Hải L sử dụng vào việc phạm tội là tài sản của cửa hàng Đ1 Bến gỗ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho chị Trương Minh C là đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần T4; 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 60F2- 860.19 của bà Nguyễn Tuyết N là mẹ ruột của Trần Hải L cho L mượn để sử dụng. Do bà N không biết việc L sử dụng xe vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu giữ; 01 áo thun đen phía sau có in chữ X1 và 01 áo thun màu trắng của bị can Trần Hải L nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho L. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả cho các chủ sở hữu hợp pháp là đúng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • 01 USB hiệu Kingston màu đen lưu hình ảnh camera ghi nhận hành vi trộm cắp tài sản của Trần Hải L nên cần tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án.
  • Đối với anh Hồ Sỹ Đ, anh Nguyễn Đình H2, anh Nguyễn Lục Q, anh Nguyễn Hoàng L1, anh Lường Công T và anh Nguyễn Nhật T1 đã nhận cầm điện thoại của Trần Hải L nhưng không biết là tài sản do L phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không xử lý hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Do bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Hải L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017):

    Xử phạt bị cáo Trần Hải L 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ thời hạn tạm giữ trước đó từ ngày 12/7/2023 đến ngày 20/7/2023.

  3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

    Buộc bị cáo Trần Hải L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP. Biên Hòa;
  • - Cơ quan CSĐT CA TP. Biên Hòa;
  • - Cơ quan THAHS CA TP. Biên Hòa;
  • - Phòng PV06 CA T. Đồng Nai;
  • - Chi cục THADS TP. Biên Hòa;
  • - Nhà tạm giữ Công an thành phố Biên Hòa;
  • - UBND phường/xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quốc Bảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 743/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 743/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Trần Hải L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger