|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 743/2024/DS-ST
Ngày: 31/7/2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thụy Bích Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hà Nguyễn Minh Nam
- Bà Nguyễn Thị Túy Phượng
- Thư ký phiên tòa:
Bà Trần Minh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân:
Bà Bùi Thị Bích Phượng - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 866/2023/TLST-DS ngày 17/10/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2024/QĐST-DS ngày 20 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 93/2024/QĐST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ngân hàng N1 (A)
Trụ sở: 02 L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội
Đại diện theo pháp luật: Ông Tiết Văn T – Chức vụ: Tổng giám đốc
Đại diện theo ủy quyền: ông Trần Khánh D
CMND/CCCD: [...]
(Quyết định ủy quyền số 69/GUQ-NHNoBP ngày 18/8/2022)
Địa chỉ liên hệ: C T, Phường A, Quận T, Hồ Chí Minh.
-
Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn P, sinh năm: 1989 và bà Trần Thị Ngọc H, sinh năm: 1988
Cùng địa chỉ: 3 Lô B, phường D, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 25/7/2022 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn Ngân hàng N1 trình bày:
Ngày 17/09/2020, Ngân hàng N1 – Chi nhánh B (gọi tắt là A) đã ký Hợp đồng tín dụng số 1901-LAV-202000091 với ông Nguyễn Tấn P và bà Trần Thị Ngọc H để cho vay số tiền 6.400.000.000 đồng, với lãi suất vay là 11%/năm và lãi suất sẽ được điều chỉnh 03 tháng một lần. Trường hợp áp dụng lãi suất điều chỉnh: lãi suất cho vay được xác định bằng mức lãi suất cơ sở + biên độ lãi lề (%). Thời hạn vay: 120 tháng kể từ ngày tiếp theo liền kề của ngày đầu tiên Ngân hàng giải ngân đến ngày 17/9/2030. Mục đích sử dụng vốn vay: thanh toán tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thửa đất số 38, tờ bản đồ 40 (BDĐC-2005) địa chỉ 27/20/3 P, Phường A, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Trả nợ gốc: ân hạn 06 tháng đầu, từ tháng thứ 7 mỗi tháng trả 50 triệu đồng, năm thứ 10 mỗi tháng trả 100 triệu đồng, còn lại 200 triệu đồng trả vào kỳ cuối. Kỳ hạn trả lãi: ngày 28 hàng tháng.
Để đảm bảo cho khoản vay, ông Nguyễn Tấn P và bà Trần Thị Ngọc H đã thế chấp cho Ngân hàng A quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại địa chỉ 2 P, Phường A, Quận T, TP., thuộc quyền sở hữu của ông P và bà H. Hợp đồng thế chấp số: 19010-LCL-2020.00081 ngày 02/10/2020 được công chứng tại Văn phòng C, số C, quyền số: 10 TP/CC-SCC/HĐGD và được Văn phòng đăng ký đất đai CN Tân Bình chứng nhận việc thế chấp ngày 02/10/2020.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông P bà H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, từ ngày 29/10/2020 đến ngày 08/4/2021, chỉ trả cho Ngân hàng A được tổng số tiền lãi: 372.451.801 đồng, không trả tiền gốc và ngưng thanh toán đến nay mặc dù Ngân hàng đã dùng nhiều biện pháp nhắc nợ.
Nay Ngân hàng A yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Tấn P và bà Trần Thị Ngọc H phải thanh toán tổng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 31/07/2024 là: 8.898.953.541 đồng (nợ gốc: 6.400.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 2.320.107.103 đồng, nợ lãi quá hạn: 178.846.438 đồng). Buộc ông P và bà H phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất trong hạn 11%/năm kể từ ngày 01/8/2024 cho đến ngày thực tế ông P bà H trả hết nợ gốc và lãi suất quá hạn phát sinh kể từ khi phát sinh nợ gốc quá hạn với mức lãi phạt quá hạn 5,5%/năm cho đến ngày thực tế ông P bà H trả hết nợ gốc. Trường hợp ông P và bà H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng A có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 1901-LCL-2020.00081 ngày 02/10/2020 để thu hồi nợ. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ thì Ngân hàng A có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý những tài sản khác thuộc quyền sở hữu của ông P và bà H để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, Ngân hàng A vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, buộc Nguyễn Tấn P và bà Trần Thị Ngọc H có trách nhiệm thanh toán tổng số tiền nợ gốc, lãi trong hạn và lãi quá hạn là 8.898.953.541 đồng.
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông P và bà H vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung: chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng N1 Chi nhánh B.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
-
Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Về quan hệ tranh chấp giữa Ngân hàng N1 Chi nhánh B và ông Nguyễn Tấn P, bà Trần Thị Ngọc H là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thẩm quyền: ông Nguyễn Tấn P, bà Trần Thị Ngọc H cùng có nơi cư trú tại địa chỉ: 3 Lô B, phường D, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
-
Về tố tụng:
Theo nội dung hợp đồng tín dụng số 1901-LAV-2020.00091 ngày 17/9/2020, ông Nguyễn Tấn P, bà Trần Thị Ngọc H cùng cung cấp địa chỉ thường trú: 3.2 Lô B cư xá N, phường D, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo kết quả cung cấp chứng cứ của Công an phường D1, quận P thì: “đương sự Nguyễn Tấn P, Trần Thị Ngọc H có hộ khẩu thường trú tại 3.2 Lô B cư xá N, phường D, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện tại công dân P và H không còn cư ngụ tại địa chỉ trên, đi đâu, không rõ địa chỉ”
Theo kết quả cung cấp chứng cứ của Công an phường A1, quận T thì: “tại địa chỉ 27/20/3 P, phường A, quận T hiện tại không có ai cư ngụ”.
Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; giấy triệu tập đương sự; thông báo tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử; giấy triệu tập đương sự tham gia phiên tòa; quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn ông Nguyễn Tấn P, bà Trần Thị Ngọc H đều không có mặt tại phiên tòa. Tòa án cũng niêm yết thông báo kết quả phiên họp về giao nộp, tiếp cập, công khai chứng cứ cho bị đơn theo quy định tại Khoản 3 Điều 210 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Các đương sự đã biết được chứng cứ của nhau và không có ai yêu cầu, khiếu nại gì. Hội đồng xét xử xét giải quyết vụ án sơ thẩm trong phạm vi yêu cầu và các chứng cứ của đương sự giao nộp, các bên đương sự thừa nhận, không có ý kiến phản đối là đảm bảo nguyên tắc cung cấp chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh trong vụ án dân sự theo quy định tại Khoản 1 Điều 6, Điều 91, 92, 95, 96 và Điều 210 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào yêu cầu khởi kiện, lời trình bày cũng như chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để làm cơ sở xem xét giải quyết vụ án và tiến hành xét xử vắng mặt ông P bà H theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
-
Về nội dung:
Căn cứ vào hợp đồng tín dụng số 1901-LAV-2020.00091 ngày 17/9/2020, Phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ hạn trả nợ ngày 17/9/2020 được lập và có chữ ký xác nhận giữa Ngân hàng A và ông Nguyễn Tấn P, bà Trần Thị Ngọc H, đủ cơ sở để xác định Ngân hàng A đã cho ông P bà H vay số tiền 6.400.000.000 đồng, ông P bà H đã nhận đủ số tiền vay bằng phương thức giải ngân: chuyển khoản cho bên thụ hưởng: Võ Nguyên L - Số tài khoản 1901206183122 tại A Chi nhánh B để thanh toán tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thừa đất số 38, tờ bản đồ 40 (BDĐC-2005) địa chỉ 27/20/3 P, Phường A, Quận T, TP ..
Căn cứ vào hợp đồng thế chấp có công chứng số 1901-LCL-2020.00081 ngày 02/10/2020 được Văn phòng công chứng Ninh Thị H1 chứng nhận vào ngày 02/10/2020 có số công chứng 008716 Quyền số 10 TP/CC-SCC/HĐGD do công chứng viên Nguyễn Thị Mai H2 chứng nhận được lập và có chữ ký xác nhận giữa Ngân hàng A và ông Nguyễn Tấn P, bà Trần Thị Ngọc H đủ cơ sở để xác định ông P bà H đã thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ 2 P, Phường A, Quận T, TP. để đảm bảo cho khoản vay 6.400.000.000 đồng.
Theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 1901-LAV-2020.00091 ngày 17/9/2020 và phụ lục hợp đồng thì thời hạn vay 120 tháng, kể từ ngày tiếp theo liền kề của ngày đầu tiên Ngân hàng giải ngân là 18/9/2020 đến ngày 17/9/2030. Tuy chưa hết hạn thanh toán, nhưng do ông P bà H đã liên tục vi phạm nghĩa vụ thanh toán, không trả tiền gốc định kỳ: ân hạn 06 tháng đầu, từ tháng thứ 7 mỗi tháng trả 50 triệu đồng, năm thứ 10 mỗi tháng trả 100 triệu đồng, còn lại 200 triệu đồng trả vào kỳ cuối. Kỳ hạn trả lãi ngày 28 hàng tháng, nhưng từ ngày 29/10/2020 đến ngày 08/4/2021, ông P bà H chỉ trả được tổng số tiền lãi trong hạn là 372.451.801 đồng rồi ngưng cho đến nay là đã vi phạm vào Điều 7 của Hợp đồng tín dụng và mục 2 của phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ hạn trả nợ ngày 17/9/2020, xâm phạm đến quyền và lợi ích của nguyên đơn nên Ngân hàng yêu cầu phải trả nợ gốc, lãi trước thời hạn làm một lần kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật là chính đáng. Theo xác nhận của Ngân hàng A, ông Nguyễn Tấn P, bà Trần Thị Ngọc H còn nợ Ngân hàng A tổng số tiền tạm tính đến ngày 31/7/2024 là 8.898.953.541 đồng, gồm nợ gốc: 6.400.000.000 đồng; lãi trong hạn: 2.320.107.103 đồng; lãi quá hạn: 178.846.438 đồng.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A đối với ông Nguyễn Tấn P, bà Trần Thị Ngọc H là có cơ sở để chấp nhận.
Ngoài ra ông Nguyễn Tấn P, bà Trần Thị Ngọc H còn phải chịu tiền lãi tiếp tục phát sinh theo mức lãi suất quá hạn trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày 01/8/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ trên.
Trước yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận đã nhiều lần triệu tập ông Nguyễn Tấn P, bà Trần Thị Ngọc H đến Tòa để lấy lời khai của ông bà về những vấn đề liên quan đến vụ án nhưng ông bà đều vắng mặt. Tòa án đã niêm yết, tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập làm bàn tự khai, thông báo về phiên họp cũng như kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông bà không đến Tòa án để giải quyết và cũng không có văn bản phản đối yêu cầu của nguyên đơn. Do đó có cơ sở chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng.
Tại phiên tòa hôm nay, ông Nguyễn Tấn P, bà Trần Thị Ngọc H vẫn vắng mặt không có lý do, cũng như không đưa ra bất kỳ một phản hồi nào hoặc chứng cứ nào để chứng minh cho quan điểm của mình. Vì vậy, ông P bà H phải chịu hậu quả đối với hành vi của mình.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận phát biểu ý kiến:
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N1.
Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có cơ sở chấp nhận.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Nguyễn Tấn P, bà Trần Thị Ngọc H phải chịu. Ngân hàng N1 không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Khoản 3 Điều 228, Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 280, Điều 299, Điều 323, Điều 351, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm năm 2015;
Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng 2010;
Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Tuyên xử:
-
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc ông Nguyễn Tấn P, bà Trần Thị Ngọc H phải thanh toán cho Ngân hàng N1 Chi nhánh B số tiền còn nợ của hợp đồng tín dụng số 1901-LAV-202000091 ngày 17/9/2020 tạm tính đến ngày 31/7/2024 là 8.898.953.541 đồng, gồm nợ gốc: 6.400.000.000 đồng; lãi trong hạn: 2.320.107.103 đồng; lãi quá hạn: 178.846.438 đồng.
Thi hành một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Trường hợp ông Nguyễn Tấn P, bà Trần Thị Ngọc H không thanh toán số tiền còn nợ nêu trên, thì Ngân hàng N1 Chi nhánh B được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại địa chỉ 2 P, Phường A, Quận T, TP ., thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Tấn P, bà Trần Thị Ngọc H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 107630, vào số cấp GCN CH00361 do Ủy ban nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 25/12/2010, cập nhật nội dung thay đổi ngày 28/9/2020 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Tấn P, bà Trần Thị Ngọc H theo hồ sơ đăng ký biến động số 13509-2020.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử, nếu ông Nguyễn Tấn P, bà Trần Thị Ngọc H không thi hành số tiền nêu trên thì ông N phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất được thỏa thuận trong đồng tín dụng số 1901-LAV-202000091 ngày 17/9/2020 giữa Ngân hàng N1 Chi nhánh B và ông Nguyễn Tấn P, bà Trần Thị Ngọc H.
-
Về án phí:
Ông Nguyễn Tấn P, bà Trần Thị Ngọc H phải chịu án phí sơ thẩm là 116.898.954 đồng (Hai mươi lăm triệu năm trăm hai mươi chín ngàn bốn trăm ba mươi đồng).
Hoàn lại cho Ngân hàng N1 số tiền tạm ứng án phí 57.663.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0029769 ngày 04/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Phú Nhuận.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự đã sửa đổi bổ sung năm 2014.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận: - TAND TP HCM; - VKSND TP HCM; - VKSND quận Phú Nhuận; - Chi cục THADS quận Phú Nhuận; - Các đương sự; - Lưu VP, hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thụy Bích Ngọc |
Bản án số 743/2024/DS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 743/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
