|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 742/2024/DS-ST Ngày: 22 - 8 - 2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Thị Hồng Đào
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Chí
- Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyến là Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 201/2024/TLST-DS ngày 20 tháng 3 năm 2024 về: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 200/2024/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 313/2024/QĐST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần T; Trụ sở: Đường A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Đức T, sinh năm 1984; Địa chỉ thường trú: số Đường D, Phường E, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (văn bản ủy quyền số 5098/2023/UQ-TGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2023).
- Bị đơn: Ông Lê Minh Đ, sinh năm 1992; địa chỉ cư trú: Đường G, Phường H, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Ông T và ông Đ vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn khởi kiện ngày 28 tháng 02 năm 2024 của Ngân hàng Thương mại cổ phần T, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Đức T là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 20/5/2019, ông Lê Minh Đ có ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần T (gọi tắt là Ngân hàng) hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 20/5/2019 và Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), hạn mức tín dụng là 50,000,000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2.48%/ tháng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Đồng đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 1.744.077.832 đồng.
Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 22 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Ông Đ phải chịu các khoản phí theo quy định trong Điều 24 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, chi tiết lãi, phí trong sao kê tóm tắt.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, ông Đ đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 1.712.788.301 đồng. Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 20 của Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau: Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước; Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước; Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước; Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ; Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ; Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.
Ông Đ vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 06/02/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 48.624.181 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại).
Tính đến ngày 22/8/2024, ông Đồng còn nợ các khoản sau:
- Nợ gốc: 48.624.181 đồng
- Lãi quá hạn: 34.033.452 đồng
- Tổng cộng: 82.657.633 đồng
Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 48.624.181 đồng với lãi suất quá hạn là 3.723%/ tháng (2.48%*150%) từ ngày ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại.
Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
+ Buộc ông Đồng phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 22/8/2024 là 82.657.633 đồng, trong đó:
- Nợ gốc: 48.624.181 đồng
- Lãi quá hạn: 34.033.452 đồng
+ Ông Đ có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 23/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 20/5/2019 và Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.
2. Bị đơn – ông Lê Minh Đ không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử vụ án.
Nguyên đơn thực hiện đúng qui định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng qui định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định :
[1] Về tố tụng:
- Quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Đồng trả nợ vay theo hợp đồng tín dụng. Ông Đ cư trú tại quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, đây là quan hệ tranh chấp về hợp đồng tín dụng, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về người tham gia tố tụng:
Ông Trần Đức T là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Xét yêu cầu của ông T phù hợp quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Ông Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã Tòa án niêm yết thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông Đ nhưng ông Đ vắng mặt, không nộp (gửi) cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình, không cung cấp tài liệu chứng cứ để xác nhận hoặc phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Theo khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”.
Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 20/5/2019 và tóm tắt sao kê đối với thẻ số 436438-2992 ngày 22/8/2024 của Ngân hàng, Hội đồng xét xử xét thấy Ngân hàng yêu cầu ông Đ trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và nợ lãi là 82.657.633 (tám mươi hai triệu sáu trăm năm mươi bảy ngàn sáu trăm ba mươi ba) đồng là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét, Ngân hàng yêu cầu ông Đ thanh toán tiền lãi phát sinh theo quy định theo hợp đồng đã ký kết kể từ ngày 23/8/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ là có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét, ông Đ vi phạm nghĩa vụ trả nợ đã lâu nên Ngân hàng yêu cầu ông Đ trả nợ gốc và nợ lãi ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về án phí: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho nguyên số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 và Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Buộc ông Lê Minh Đ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần T tổng số nợ là 82.657.633 (tám mươi hai triệu sáu trăm năm mươi bảy ngàn sáu trăm ba mươi ba) đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, trong đó: nợ gốc là 48.624.181 (bốn mươi tám triệu sáu trăm hai mươi bốn ngàn một trăm tám mươi mốt) đồng và lãi quá hạn là 34.033.452 (ba mươi bốn triệu không trăm ba mươi ba ngàn bốn trăm năm mươi hai) đồng.
Kể từ ngày 23 tháng 8 năm 2024, ôn tiếp tục trả tiền lãi quá hạn phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 20/5/2019 và Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cho đến khi thanh toán xong tiền nợ.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ngân hàng Thương mại cổ phần T được nhận lại số tiền tạm nộp án phí khi khởi kiện là 1.695.332 (một triệu sáu trăm chín mươi lăm ngàn ba trăm ba mươi hai) đồng theo theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/23P số 0012774 ngày 18/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Đ phải nộp số tiền án phí là 4.132.882 (bốn triệu một trăm ba mươi hai ngàn tám trăm tám mươi hai) đồng.
3. Về nghĩa vụ thi hành án:
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo:
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Thị Hồng Đào |
|
Thành viên Hội đồng xét xử |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Châu Thị Hồng Đào |
Bản án số 742/2024/DS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 742/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP T yêu cầu ông Lê Minh Đ trả nợ tín dụng
