Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 742/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24/9/2024

V/v tranh chấp: “ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Danh Cư
  2. Bà Thái Thục Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Nhàn – Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 292/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 221/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 213/2024/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Vũ Thị H, sinh năm 1971 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: 154/65 A, Phường B, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh

Bị đơn: Ông Ngô Ngọc T, sinh năm 1971 (vắng mặt)

Địa chỉ: 154/65 A, Phường B, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại Đơn khởi kiện ngày 21/3/2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Vũ Thị H trình bày:

Bà Vũ Thị H và ông Ngô Ngọc T tự nguyện sống chung và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 74, quyển số 01 ngày 27/9/1997 tại Ủy ban nhân dân Phường 5, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà H và ông T có với nhau hai người con chung tên Ngô Vũ Ngọc H (nam), sinh ngày 27/11/1999 và Ngô Ngọc Vũ H1 (nam), sinh ngày 11/12/2001. Cuộc sống gia đình không hạnh phúc, vợ chồng không có sự tôn trọng lẫn nhau, thường xuyên phát sinh thuẫn. Dù sống chung nhà nhưng vợ chồng không có tiếng nói chung. Ngoài ra, ông T còn nhiều lần có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nữa nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông T.

Về con chung: Hai người con chung tên Ngô Vũ Ngọc H và Ngô Ngọc Vũ H1 đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà H khai hai bên không có tài sản chung và không có thiếu nợ chung của ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt cho ông Ngô Ngọc T các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại các Điều 177, Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông T không đến làm việc và hòa giải nên không ghi nhận được ý kiến của ông T. Ngày 26/6/2024, Tòa án lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được do bị đơn là ông Ngô Ngọc T vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ, đồng thời nguyên đơn là bà Vũ Thị H có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải.

* Tại phiên tòa:

- Chủ tọa phiên tòa công bố: nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do.

Chủ tọa công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8 phát biểu:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng thẩm quyền, thời hiệu, quan hệ pháp luật tranh chấp. Những người tham gia tố tụng được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Xét đơn khởi kiện của bà Vũ Thị H, xác định đây là vụ án dân sự về việc “Ly hôn”. Bị đơn cư trú tại Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8 theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa theo khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Xét các yêu cầu của nguyên đơn:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị H và ông Ngô Ngọc T tự nguyện sống chung và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 74, quyển số 01 ngày 27/9/1997 tại Ủy ban nhân dân Phường 5, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh nên có căn cứ xác định quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông T là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Theo bà H thì cuộc sống chung không hạnh phúc xuất phát từ việc vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Dù sống chung nhà nhưng vợ chồng không có tiếng nói chung. Ngoài ra, ông T còn nhiều lần có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Xét thấy cuộc sống chung không đem lại hạnh phúc cho bà H, ông T không đến Tòa án để trình bày ý kiến và hòa giải chứng tỏ ông T cũng không còn quan tâm đến cuộc sống chung. Vợ chồng không có sự quan tâm chia sẻ gắn bó lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử thống nhất quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 là chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà H được ly hôn với ông T.

[3.2] Về con chung: Bà Vũ Thị H và bà Ngô Ngọc T có hai người con chung tên Ngô Vũ Ngọc H (nam), sinh ngày 27/11/1999 và Ngô Ngọc Vũ H1 (nam), sinh ngày 11/12/2001 đã thành niên.

[3.3] Về tài sản chung, nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Bà Vũ Thị H khai không có. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, ông Ngô Ngọc T không có mặt để trình bày ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung sẽ được giải quyết bằng vụ kiện khác.

[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ Luật thi hành án dân sự;

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị H.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị H được ly hôn với ông Ngô Ngọc T.
    • - Về con chung: Bà Vũ Thị H và ông Ngô Ngọc T có hai con chung tên Ngô Vũ Ngọc H (nam), sinh ngày 27/11/1999 và Ngô Ngọc Vũ H1 (nam), sinh ngày 11/12/2001 đã thành niên.
    • - Về tài sản chung, nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Bà Vũ Thị H khai không có. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, ông Ngô Ngọc T không có mặt để trình bày ý kiến nên Tòa án không xem xét. Nếu sau này có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung sẽ được giải quyết bằng vụ kiện khác.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Vũ Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0000847 ngày 09/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Về quyền kháng cáo: Bà Vũ Thị H và ông Ngô Ngọc T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND Quận 8;
  • - TAND Tp. HCM;
  • - Chi cục THADS Quận 8;
  • - UBND Phường 5, Quận 5;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 742/2024/HNGĐ-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 742/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị H. - Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị H được ly hôn với ông Ngô Ngọc T. - Về con chung: Bà Vũ Thị H và ông Ngô Ngọc T có hai con chung tên Ngô Vũ Ngọc H (nam), sinh ngày 27/11/1999 và Ngô Ngọc Vũ H1 (nam), sinh ngày 11/12/2001 đã thành niên. - Về tài sản chung, nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Bà Vũ Thị H khai không có. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, ông Ngô Ngọc T không có mặt để trình bày ý kiến nên Tòa án không xem xét. Nếu sau này có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung sẽ được giải quyết bằng vụ kiện khác.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger