|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 740/2024/HC-PT Ngày: 19 - 7-2024 “V/v Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực chế độ, chính sách đối với người có công” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Công Mười
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hùng
Bà Bùi Thị Thu
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 86/2024/TLPT-HC ngày 21 tháng 02 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực chế độ, chính sách đối với người có công”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 17/2023/HC-ST ngày 14 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2177/2024/QĐPT-DS ngày 01 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Võ Quang P - Có mặt.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Luật sư Nguyễn Long H – Có mặt.
- Người bị kiện: Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh C.
Địa chỉ: Số A, P, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quốc T, chức vụ Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh C – Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Bà Nguyễn Thu T1, chức vụ: Phó Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh C (Văn bản ủy quyền ngày 12/6/2023; có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tỉnh Đoàn Cà M.
Địa chỉ: Số I P, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng Đ, chức vụ: Bí thư Tỉnh đoàn – Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc T2, chức vụ: Phó Bí thư Tỉnh đoàn (Văn bản ủy quyền ngày 13/11/2023) – Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 09/3/2023 cùng với các văn bản kèm theo, nguyên đơn ông Võ Quang P trình bày: Vào đầu năm 1968 ông tham gia kháng chiến, thực hiện nhiệm vụ tại Khung Thanh niên xung phong tỉnh C. Đến đầu tháng 3 năm 1968 thì ông Hoàng T3 ở Tổng đội Thanh niên xung phong về nhận quân tại tỉnh Cà Mau (khu vực nhận quân tại ở Ấp T, huyện T). Khung Thanh niên xung phong thành lập được 01 Trung đội lẽ do ông Trần Văn T4 làm Trung đội trưởng. Ông Hoàng T3 nhận Trung đội lẽ của K để tăng cường, bổ sung cho đơn vị Nguyễn Việt K I, Miền đông (C239). Ông Trần Duy T5 (tự là 6 T) là người thành lập Trung đội lẽ để tăng cường cho đơn vị của ông Hoàng T3, ông là người được giao nhiệm vụ bảo vệ cho ông Hoàng T3. Trên đường đi khoảng 01 tháng thì đến vùng rừng B80 (N, hiện nay thuộc huyện C, tỉnh Kiên Giang) thì bị giặc đánh và ông bị thương, khi đó có ông Hoàng T3 và ông Trần Văn T4 biết (hiện nay ông Hoàng T3 và ông Trần Văn T4 đã mất). Sau khi ông bị thương được giải phẫu ở N (rừng B) thì không biết có ai biết không. Sau đó ông được đưa qua H, Kiên Giang (S) để điều trị. Trong lúc ông trị bệnh có đồng đội qua thăm là bà L, bà X (ở cùng Trung đội lẽ, hiện tại bà L, bà X ở đâu thì ông không biết). Trong thời gian điều trị, ông nghe nói có người ở Cà Mau lên và bị thương cũng nằm ở đây nên ông có qua thăm thì gặp bà Ngô Thị V cũng tham gia thanh niên xung phong và bị thương nhưng không biết đơn vị nào. Ngoài ra còn có bà Nguyễn Thị P1 (ở L, An Giang) là người điều trị và nuôi dưỡng thương binh, trị bệnh cho ông. Sau khi điều trị ở H, Kiên Giang (S) hết năm 1968 thì ông về Khu đoàn đóng tại thứ 10 thuộc tỉnh Kiên Giang do ông 5 Đoàn tiếp nhận (hiện nay ông 5 Đoàn đã chết). Sau một thời gian ở Khu đoàn do sức khỏe yếu nên ông được đưa về Tỉnh đoàn Cà Mau vào năm 1969. Ông Trần Duy T5 (6 T) tiếp nhận ông làm ở Tỉnh đoàn một thời gian thì về Thị đoàn Cà Mau cho đến khi hòa bình. Hiện tại chỉ có ông Trần Duy T5, bà Nguyễn Thị P1 và bà Ngô Thị V là biết ông tham gia thanh niên xung phong bị thương. Ngoài ra ông không còn tài liệu, chứng cứ nào chứng minh.
Việc ông có tham gia kháng chiến là rõ ràng, ông có đi Khung Thanh niên xung phong có ông Trần Duy T5 biết rõ và xác nhận, nhiệm vụ cụ thể của ông là bảo vệ cho ông Hoàng T3 và ông đã bị giặc chặn đánh ở Rừng B80 vào tháng 3 năm 1968, ông đã bị thương gãy cánh tay trái, được điều trị tại Quân y H (S). Việc ông bị thương có bà Ngô Thị V, bà Nguyễn Thị P1 biết rõ. Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh C căn cứ vào ý kiến của người dân tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C thì không phải nơi ông sinh sống và công tác, nên nội dung làm việc với những người không cùng sinh sống và công tác với ông là
không đảm bảo tính chính xác, không khách quan. Bên cạnh đó, việc xác minh những người biết sự việc trong điều kiện, hoàn cảnh không đảm bảo về sức khỏe nên nội dung xác minh không đúng, cụ thể như nội dung xác nhận của ông Trần Văn T4 khi ông Trần Văn T4 đã mang chứng bệnh tai biến, không còn minh mẫn; nội dung xác nhận của ông Trần Duy T5 thì bị bỏ qua những nội dung có lợi cho ông; nội dung xác minh bà Phạm Thị H1 là không khách quan vì ông không quen biết bà Phạm Thị H1; còn bà Ngô Thị V thì biết rõ ông bị thương và điều trị và đã xác nhận cho ông chứ ông không có nhờ bà Ngô Thị V xác nhận không đúng sự thật; xác nhận của bà Nguyễn Thị P1 về việc điều trị vết thương cho ông là thực tế; lời khai của ông Trần C (S), ông Phan Văn Ý, ông Nguyễn Duy Q (N), ông Trần Thanh L1 đều không chính xác vì những người này có người ông không quen biết, có người không biết rõ việc ông đi tham gia kháng chiến cũng như không hề biết việc ông bị thương. Trên cơ sở đó, Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đề nghị rút lại Giấy chứng nhận thương tích của ông và Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội ra Quyết định số: 31/QĐ-SLĐTBXH ngày 12/01/2023 chấm dứt chế độ ưu đãi đối với người có công và buộc ông nộp hoàn trả ngân sách Nhà nước số tiền trợ cấp đã nhận 135.574.600 đồng là không có căn cứ, nên ông yêu cầu Hủy Quyết định số: 31/QĐ-SLĐTBXH ngày 12/01/2023 của Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh C và tiếp tục cấp lại chế độ chính sách thương binh cho ông từ tháng 08 năm 2020 cho đến nay.
Người bị kiện là Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh C xác định: Theo hồ sơ chính sách được ông Võ Quang P khai lập là ông tham gia công tác tại Tỉnh đoàn, chiến sĩ Thanh niên xung phong Quyết Thắng II, được Nghị quyết đi thanh niên xung phong, khu 9; ông đã bị thương vào ngày 06/01/1969, trong trường hợp đơn vị đóng quân địch phát hiện cho phi cơ oanh tạc, xe tăng và bộ binh càn vào đánh; bị thương tại đường dây B8, kinh xáng M, huyện T, Rạch G (cũ), thương tích là do đạn bắn, trúng vào cánh tay trái, gãy xương. Từ đó cơ quan Tỉnh đoàn thanh niên tỉnh M cấp “Giấy chứng nhận bị thương” cho ông Võ Quang P vào ngày 27/11/1978. Thương tích của ông Võ Quang P được Hội đồng giám định y khoa tỉnh Minh Hải khám lại vào ngày 19/12/1978 và kết luận tỷ lệ thương tật là 21%, xếp vào hạng 01 theo tiêu chuẩn thương tật 8 hạng ban hành tại Thông tư số 32/BYT-TT ngày 23/8/1976 của Bộ Y. Từ đó, Trưởng Ty Thương binh và Xã hội tỉnh M (nay là tỉnh Cà Mau) ban hành Quyết định số 4179/QĐ ngày 20/4/1979, trợ cấp thương tật cho ông Võ Quang P, thời gian trợ cấp từ ngày 17/6/1976.
Quá trình kiểm tra việc thực hiện chính sách thương binh và xã hội vào tháng 05/1983 Ủy ban nhân dân huyện C đã xác định trong thời gian sinh sống tại địa phương, ông Võ Quang P không chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Do thái độ chính trị, phẩm chất, lối sống không đủ điều kiện để hưởng quyền lợi thương binh nên Ủy ban nhân dân huyện C đề nghị Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thu hồi Quyết định công nhận thương binh đối với ông Võ Quang P. Qua kiểm tra hồ sơ thương binh của ông Võ Quang P thì không có xác nhận của những người công tác chung đơn vị mà chỉ có một số xác nhận của những người biết được quá trình tham gia công tác
của ông Võ Quang P được khai lập vào năm 1999 và năm 2006 trong hồ sơ hưởng chế độ một lần theo Quyết định 290/2005/QĐ-TTg ngày 08/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ. Trên cơ sở xác minh nội dung tố cáo của người dân, Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh C chứng minh ông Võ Quang P đã khai man hồ sơ thương binh, quá trình tham gia kháng chiến và bị thương không đúng như ông Võ Quang P khai nhận, vi phạm quy định tại khoản 2, Điều 118 của Nghị định số 131/2021/NĐ- CP ngày 30/12/2021 của Chỉnh phủ, để hưởng chế độ ưu đãi người có công. Ngày 11/3/2021, Tỉnh đoàn C1 ban hành Quyết định số: 175/QĐ/TĐTN-TCKT về việc Thu hồi giấy chứng nhận bị thương của ông Võ Quang P. Ngày 12/01/2023, Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh C ban hành Quyết định số: 31/QĐ-SLĐTBXH về việc Chấm dứt chế độ ưu đãi đối với người có công và buộc ông Võ Quang P nộp hoàn trả Ngân sách Nhà nước số tiền trợ cấp đã nhận là 135.574.600 đồng.
Việc Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh C ban hành Quyết định số: 31/QĐ-SLĐTBXH ngày 12/01/2023 về việc Chấm dứt chế độ ưu đãi đối với người có công đối với ông Võ Quang P là đúng với quy định của pháp luật nên không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông Võ Quang P.
Tỉnh đoàn C1 xác định là việc cấp “Giấy chứng nhận bị thương” cho ông Võ Quang P vào ngày 27/11/1978 để ông Võ Quang P lập hồ sơ thương binh, qua kiểm tra thì việc cấp “Giấy chứng nhận bị thương” cho ông Võ Quang P là chưa đảm bảo theo quy định tại Thông tư số 05-TT/76 ngày 17/6/1976 của Phủ Chủ tịch Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền nam Việt Nam vì chỉ dựa vào lời khai của người bị thương mà không có sự xác nhận của những người thuộc đơn vị cũ, không điều tra, xác minh cụ thể về trường hợp bị thương của ông Võ Quang P, nên không đảm bảo căn cứ theo quy định chung. Đồng thời, qua xác minh của Tổ Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh C đã có căn cứ xác định ông Võ Quang P khai man hồ sơ thương binh. Từ đó, Tỉnh Đoàn Cà Mau đã ban hành Quyết định số: 175/QĐ/TĐTN-TCKT ngày 11/3/2021 về việc Thu hồi giấy chứng nhận bị thương của ông Võ Quang P là phù hợp.
* Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 17/2023/HC-ST ngày 14 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, quyết định:
Căn cứ các Điều 30, 32, 116, 348, điểm a khoản 2 Điều 193 của Luật tố tụng hành chính; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Võ Quang P về việc hủy Quyết định số: 31/QĐ-SLĐTBXH ngày 12/01/2023 của Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh C.
Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, việc thi hành án và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
* Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 27/11/2023 ông Võ Quang P kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phát biểu quan điểm như sau :
Có đủ cơ sở xác định : Căn cứ các quy định của pháp luật về điều kiện được hưởng chế độ ưu đãi đối với thương binh thì trường hợp của ông P là chưa đúng quy định. Vì vậy, việc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh C ban hành quyết định về việc chấm dứt hưởng chế độ người có công và buộc ông P phải hoàn trả lại số tiền đã được hưởng là đúng pháp luật.
Đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định về yêu cầu kháng cáo của ông Võ Quang P như sau:
Căn cứ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Quang P về việc hủy Quyết định số: 175/QĐ/TĐTN-TCKT ngày 11/3/2021 về việc thu hồi giấy chứng nhận bị thương cấp cho ông Võ Quang P vào ngày 17/11/1978 cho thấy cần phải xem xét các Quyết định hành chính có liên quan trước đó. Theo đó, chứng cứ đã thu thập thể hiện:
[1] Xét về tính hợp pháp của Quyết định hành chính có liên quan: Trên cơ sở “Giấy chứng nhận bị thương” do Tỉnh đoàn tỉnh M cấp cho ông Võ Quang P vào ngày 27/11/1978 và “Biên bản giám định thương tật” của Hội đồng giám định Y Khoa tỉnh Minh Hải về việc giám định thương tật của ông Võ Quang P ngày 19/12/1978, từ đó Trưởng T6 Thương Binh Xã hội thừa ủy quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh M (cũ) ban hành Quyết định số: 4179/QĐ ngày 20/4/1979 để trợ cấp thương tật cho ông Võ Quang P. Các quyết định nêu trên là các quyết định hành chính có liên quan được xác định là ban hành đúng thẩm quyền theo quy định tại Thông tư số 32/BYT-TT ngày 23/8/1976 của Bộ Y; Nghị định số 08/NĐ/76 ngày 17/6/1976 của Hội; Thông tư số 05-TT/76 ngày 17/6/1976 của Phủ Chủ tịch Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền nam Việt Nam.
Tuy nhiên, qua xem xét về trình tự, thủ tục trước khi ban hành quyết định thì đối với “Giấy chứng nhận bị thương” do Tỉnh đoàn tỉnh M cấp cho ông Võ Quang P vào ngày 27/11/1978 không đảm bảo về trình tự, thủ tục bởi vì chỉ căn cứ vào tài liệu duy nhất là “Tờ khai của người bị thương”- do ông Võ Quang P khai lập vào tháng 11/1978, mà không có bất cứ tài liệu xác thực nào chứng minh về thương tật của ông Võ Quang P; không có xác nhận của người thuộc cơ quan, đơn vị của ông Võ Quang P và cũng không điều tra, xác minh trường hợp bị thương của ông Võ Quang P..., nên không đảm bảo quy định về thủ tục lập hồ sơ theo quy định Thông tư số 05-TT/76 ngày 17/6/1976 của Phủ Chủ tịch Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền nam Việt Nam. Bên cạnh đó, Quyết định số: 4179/QĐ ngày 20/4/1979 của Trưởng Ty Thương binh Xã hội trợ cấp thương tật cho ông Võ Quang P chỉ dựa vào hồ sơ thương binh bao gồm “Tờ khai của người bị thương”, “Giấy chứng nhận bị thương” và “Biên bản giám định thương tật” ngoài ra không còn tài liệu nào khác nên “Giấy chứng nhận bị thương” ngày
27/11/1978 và Quyết định số 4179/QĐ ngày 20/4/1979 về trợ cấp thương tật cho ông Võ Quang P là chưa đảm bảo về căn cứ theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung khởi kiện và tính hợp pháp của Quyết định hành chính bị kiện thấy rằng: Ngay từ tháng 11 năm 1978 khi làm hồ sơ, ông Võ Quang P chỉ khai “Tờ khai của người bị thương” để lập hồ sơ thương binh, hưởng chế độ chính sách đối với người có công. Theo “Tờ khai của người bị thương” ông Võ Quang P khai nhận cụ thể là “Ông Võ Quang P là Chiến sĩ Thanh niên xung phong Quyết Thắng II, bị thương vào ngày 06/01/1969; trường hợp bị thương là đơn vị đóng quân địch phát hiện cho phi cơ oanh tạc, xe tăng và bộ binh tràn vào, đơn vị đưa tôi và các đồng chí (chiến đấu), tình trạng vết thương do đạn trúng vào cánh tay trái (gãy xương); điều trị vết thương tại Quân y H, đến ngày 10/4/1969 thì ra viện”. Tuy nhiên, quá trình thực hiện việc thanh tra, kiểm tra hồ sơ người có công đối với ông Võ Quang P, Sở L đã thực hiện việc xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để củng cố hồ sơ chính sách của ông Võ Quang P cùng với việc xác minh nội dung tố cáo của người dân thì phát hiện và xác định ông Võ Quang P đã khai man hồ sơ thương binh. Ông Võ Quang P cũng đã cung cấp lời khai của mình; xác nhận của những người tham gia kháng chiến và biết ông bị thương. Thông qua kết quả xác minh và đối chiếu với các tài liệu, lời khai cho thấy:
Về thời gian tham gia kháng chiến và bị thương theo ông Võ Quang P khai là ông tham gia kháng chiến từ đầu năm 1968 tại Khung Thanh niên xung phong tỉnh M, đến đầu tháng 3 năm 1968 thì ông đi theo bảo vệ Hoàng T3 (ở Tổng đội Thanh niên xung phong) trên đường đi tăng cường, bổ sung cho đơn vị Nguyễn Việt K I, Miền đông (C239), đến khoảng tháng 4 năm 1968 thì đến rừng B80 (N, hiện nay thuộc huyện C, tỉnh Kiên giang) thì bị giặc chặn đánh và ông bị thương. Ông điều trị thương tích đến hết năm 1968 thì được đưa về Khu Đ và sau đó đưa về công tác ở Tỉnh Đoàn vào năm 1969. Nhưng tại “Tờ khai của người bị thương” thì ông Võ Quang P khai nhận là ông bị thương vào ngày 06/01/1969 và ra viện vào ngày 10/4/1969. Bên cạnh đó, ông Võ Quang P còn khai nhận với Sở L về thời gian tham gia kháng chiến từ tháng 10/1967 tại Tỉnh Đoàn và tham gia Thanh niên xung phong từ tháng 6/1968, bị thương vào mùa mưa năm 1969 đến tháng 7/1969 thì ra viện. Tháng 8/1969 về công tác tại Khu Đ đến tháng 4/1970 thì về công tác tại Tỉnh Đoàn đến tháng 11/1970 về công tác tại địa phương. Từ tháng 3/1971 đến tháng 02/1975 công tác tại Thị Đoàn Cà M1 làm nhiệm vụ hợp pháp, hoạt động bí mật. Cùng với nhiều lời khai khác của ông Võ Quang P nhưng các lời khai đều có sự mâu thuẫn và không đảm bảo tính thống nhất về thời gian, đơn vị công tác và không có chứng cứ, tài liệu để chứng minh và cũng không có ai cùng đơn vị xác nhận. Ông Võ Quang P cho rằng việc ông tham gia kháng chiến và biết việc ông bị thương chỉ có ông Trần Duy T5 (sáu T7); ông Hoàng T3; ông Trần Văn T4; bà Ngô Thị V và bà Nguyễn Thị P2 (Nguyễn Thị P1) ngoài ra thì không còn ai.
Ông Trần Duy T5 (sáu T7) cho rằng thời gian ông vận động ông Võ Quang P tham gia kháng chiến tại Tỉnh Đoàn vào năm 1968, sau 01 tháng thì chuyển qua Thanh niên xung phong. Đến khoảng giữa năm 1968 thì có ông Hoàng T3 về
nhận quân bổ sung cho chiến trường M, ông Võ Quang P đi theo bảo vệ ông Hoàng T3, sau đó thì ông không còn gặp ông Võ Quang P nữa còn việc ông Võ Quang P có đi bảo vệ ông Hoàng T3 hay không thì ông không biết nhưng trong danh sách Thanh Niên xung phong thì không có tên ông Võ Quang P. Đến khoảng cuối năm 1968 thì ông thấy ông Võ Quang P về công tác tại Tỉnh Đoàn, làm bảo vệ và tay trái bị thương chưa lành, vài tháng sau thì ông Võ Quang P được cho về địa phương sinh sống. Đối với thương tích của ông Võ Quang P thì ông chỉ nghe ông Võ Quang P kể lại, chứ ông không biết cụ thể. Trong khi đó, tại “Giấy xác nhận thành tích” ngày 12/11/1999 ông Trần Duy T5 xác nhận thời gian ông Võ Quang P tham gia cách mạng từ năm 1969 và năm 1970 tham gia Thanh niên xung phong C112, thời gian tham gia bảo vệ Khu Đoàn từ năm 1971. Từ đó cho thấy, ngoài sự mâu thuẫn, sự không thống nhất về mặt thời gian tham gia kháng chiến của ông Võ Quang P thì ông Trần Duy T5 cũng không biết cụ thể ông Võ Quang P bị thương trong trường hợp nào.
Đối với ông Hoàng T3 thì đã chết nên không xác định được ông Võ Quang P có được ông Hoàng T3 nhận đi và bảo vệ cho ông Hoàng T3 hay không.
Còn ông Trần Văn T4 xác định là ông tham gia Thanh niên xung phong đơn vị Nguyễn Việt K I từ năm 1967, đóng tại H và thực hiện vận chuyển hàng. Ông Võ Quang P không có đi chung qua H, không chung Trung đội; khi ông đi H thì ông Võ Quang P là cán bộ Khung Thanh niên xung phong ở Tỉnh Đoàn. Còn việc ông Võ Quang P có đi H và có bị thương hay không ông không biết. Tuy nhiên, tại “Giấy xác nhận thành tích” ngày 21/8/2006 thì ông Trần Văn T4 lại xác nhận thời gian từ năm 1968 đến 1971 ông Võ Quang P tham gia Thanh niên xung phong với chức vụ là Trung đội phó và có bị thương tại rừng B80. Nội dung xác nhận của ông Trần Văn T4 cũng không đảm bảo tính thống nhất, mâu thuẫn với nhau kể cả về chức vụ trong đơn vị công tác của ông Võ Quang P. Hiện nay, ông Trần Văn T4 đã chết.
Bà Ngô Thị V thì xác định là bà tham gia Thanh niên xung phong C112, đến năm 1968 bà có nằm viện tại H, Kiên Giang chứ không phải bị thương; năm 1969 thì bà mới bị thương và điều trị tại Quân Y H. Trong quá trình tham gia kháng chiến và bị thương điều trị tại H thì bà không quen biết ai là Võ Quang P. Trước đây, vì tình cảm với ông Trần Duy T5 (6 T7) nên bà có ký “Giấy xác nhận thành tích” cho ông Võ Quang P về việc tham gia kháng chiến và bị thương, nhưng nội dung xác nhận được viết sẵn và bà ký tên và nội dung đó là không đúng sự thật nên bà yêu cầu rút lại nội dung mà bà đã ký xác nhận.
Bà Nguyễn Thị P2 (Nguyễn Thị P1) thì cho rằng: vào tháng 04/1968 bà làm hộ lý của Quân y Hòn Đất, điều trị, chăm sóc thương binh. Thời gian này bà có điều trị cho ông Võ Quang P tại Quân y Hòn Đất do bị thương ở tay trái. Đến ngày 17/3/2023 thì ông Võ Quang P gặp bà nhờ xác nhận tình trạng bị thương của ông Võ Quang P. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị P2 cũng không xác định được cụ thể ông Võ Quang P tham gia công tác ở đơn vị nào và bị thương trong trường hợp nào và thời gian ông Võ Quang P điều trị thương tích cũng không phù hợp với thời gian mà ông Võ Quang P khai lập hồ sơ thương binh.
Còn lại tất cả các nội dung xác minh đối với những người công tác tại K
(C112) đều không ai biết ông Võ Quang P; không biết ông Võ Quang P bị thương khi tham gia kháng chiến tại vùng rừng B80 và tất cả những lời khai của những người này ông Võ Quang P không thừa nhận kể cả nội dung tố cáo của người dân.
[3] Từ những cơ sở trên cho thấy, ông Võ Quang P tham gia cách mạng từ đầu năm 1968 tại Tỉnh đoàn M là theo sự xác nhận của ông Trần Duy T5 ngoài ra thì không còn ai biết. Việc ông Võ Quang P được ông Hoàng T3 nhận đi Thanh niên xung phong và bảo vệ cho ông Hoàng T3 và việc ông Võ Quang P bị thương tại vùng Rừng B80 khi bị giặc chặn đánh thì không có chứng cứ, tài liệu nào chứng minh và cũng không có ai cùng đơn vị biết sự việc trên, chỉ riêng có bà Nguyễn Thị P2 biết việc ông Võ Quang P điều trị thương tích tại Quân y H nhưng bà Nguyễn Thị P2 cũng không biết ông Võ Quang P bị thương trong trường hợp nào. Trong khi đó, khi đối chiếu về thời gian cho thấy, thời gian ông Võ Quang P bị thương không đúng với thời gian mà ông Võ Quang P khai khi lập hồ sơ thương binh. Danh sách cán bộ, đội viên đơn vị Thanh niên xung phong Quyết Thắng II do Hội Cựu Thanh niên xung phong cung cấp thì không có tên ông Võ Quang P. Từ đó, không có đầy đủ căn cứ để xác định ông Võ Quang P bị thương khi tham gia kháng chiến theo tiêu chuẩn thương binh.
[4] Từ những cơ sở trên có căn cứ để xác định ông Võ Quang P đã khai lập hồ sơ thương binh không đúng với thực tế, không đảm bảo căn cứ theo quy định của Thông tư số 05-TT/76 ngày 17/6/1976 của Phủ Chủ tịch Chính phủ Cách mạng ; Thông tư số 32/BYT-TT ngày 23/8/1976 của Bộ Y; Nghị định số 08/NĐ/76 ngày 17/6/1976 của Hội và Pháp Lệnh số 02/2020/UBTVQH14 ngày 09/12/2020 về Ưu đãi người có công với Cách mạng. Đồng thời, việc Tỉnh Đoàn Cà M ban hành Quyết định số: 175/QĐ/TĐTN-TCKT ngày 11/3/2021 về việc thu hồi giấy chứng nhận bị thương cấp cho ông Võ Quang P; Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh C ban hành Quyết định số: 31/QĐ-SLĐTBXH ngày 12/01/2023 về việc Chấm dứt chế độ ưu đãi đối với người có công đối với ông Võ Quang P là phù hợp với quy định của Pháp Lệnh số 02/2020/UBTVQH14 ngày 09/12/2020 về Ưu đãi người có công với Cách mạng và Nghị định số 131/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính Phủ.
Từ đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Quang P về việc hủy Quyết định số: 31/QĐ-SLĐTBXH ngày 12/01/2023 của Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh C về việc Chấm dứt chế độ ưu đãi đối với người có công là có căn cứ. Ông P kháng cáo nhưng không xuất trình thêm được chứng cứ, tài liệu nào mới để chứng minh cho yêu cầu của mình, vì vậy không có cơ sở để chấp nhận.
[5] Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[6] Ông Võ Quang P thuộc đối tượng được miễn án phí nên không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các khoản 1 Điều 241; điểm a khoản 2 Điều 193 của Luật tố tụng hành chính; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện ông Võ Quang P.
Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 17/2023/HC-ST ngày 14 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử:
- Bác yêu cầu khởi kiện của ông Võ Quang P về việc hủy Quyết định số: 31/QĐ-SLĐTBXH ngày 12/01/2023 của Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh C.
- Ông Võ Quang P được miễn án phí hành chính phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Công Mười |
Bản án số 740/2024/HC-PT ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực chế độ, chính sách đối với người có công
- Số bản án: 740/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực chế độ, chính sách đối với người có công
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Quang Phỉ
