Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 740/2024/DS-PT

Ngày: 26/8/2024

V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Hồng Loan

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Huyền

Ông Trương Văn Hiền

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Nam – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài Phương – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 493/2024/TLPT-DS ngày 14/6/2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 306/2024/DS-ST ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3515/2024/QĐ-PT ngày 01/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11191/2024/QĐ-PT ngày 30/7/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm 1971 (Có mặt)
  2. Thường trú: ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

  3. Bị đơn: Bà Trần Thị Kim P, sinh năm 1973 (Có mặt)
  4. Thường trú: 2 H, Phường H, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trương Vũ K (Vắng mặt)
  6. Thường trú: 2 H, Phường H, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

  7. Người kháng cáo: Bị đơn bà Trần Thị Kim P.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm thể hiện nội dung vụ án như sau:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/01/2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị L trình bày:

Bà Trần Thị L có cho bà Trần Thị Kim P vay tiền, cụ thể như sau:

  • - Lần 1: Ngày 01/8/2008, bà P vay 18.000.000 đồng, mục đích để làm ăn, lãi suất theo lãi suất ngân hàng N.
  • - Lần 2: Ngày 10/8/2008, bà P vay 14.300.000 đồng, mục đích để lo tiền học cho con, lãi suất theo lãi suất ngân hàng N.
  • - Lần 3: Ngày 26/10/2008, bà P vay 700.000 đồng, mục đích để tiêu xài, lãi suất theo lãi suất ngân hàng N.
  • - Lần 4: Ngày 13/9/2018, bà P vay 30.000.000 đồng, mục đích để mua xe, lãi suất theo lãi suất ngân hàng N.

Những lần vay tiền nêu trên bà P đều ký giấy mượn tiền. Bà L và bà P thỏa thuận khi nào bà P chuyển nhượng miếng đất tại ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H00041 ngày 19/01/2005 do Ủy ban nhân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp thì sẽ trả lại số tiền đã mượn nêu trên cho bà L.

Số tiền bà L cho bà P vay là tiền cá nhân của bà L, không liên quan đến ai. Bà L cho cá nhân bà P vay sử dụng mục đích riêng của bà P, không liên quan đến chồng bà P là ông Trương Vũ K.

Tuy nhiên, từ khi bà P vay tiền đến nay, bà P chưa thanh toán bất kỳ khoản tiền nợ gốc và tiền lãi nào cho bà L. Khoảng năm 2017, 2018, 2019, 2020 bà L và bà P có trao đổi về việc giá trị chuyển nhượng miếng đất nêu trên của bà P. Bà L cho rằng miếng đất trị giá khoảng 300.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Còn bà P cho rằng miếng đất trị giá khoảng 3 tỷ đồng đến 4 tỷ đồng. Do đó cho đến nay hai bên không thực hiện việc chuyển nhượng miếng đất này. Và bà L cũng không biết hiện nay bà P đã chuyển nhượng miếng đất này cho ai chưa.

Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/01/2023, bà Trần Thị L khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị Kim P trả số tiền là 172.024.500 đồng gồm tiền gốc là 63.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày khởi kiện là ngày 10/01/2023 là 109.024.500 đồng.

Ngày 09/4/2024, bà L có đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện và tại phiên tòa hôm nay, bà L chỉ yêu cầu bà P trả số tiền nợ gốc 63.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo quy định pháp luật.

* Bị đơn bà Trần Thị Kim P trình bày tại các bản tự khai, biên bản hòa giải, tại phiên tòa hôm nay:

Bà P xác nhận các biên nhận mượn tiền ghi ngày 01/8/2008, 10/8/2008, 26/10/2008 và ngày 13/9/2018 là chữ viết và chữ ký của mình. Thực tế bà P có nhận số tiền 63.000.000 đồng của bà L. Việc này chồng bà P không biết và không sử dụng số tiền này.

Tuy nhiên đây không phải là số tiền bà P vay của bà L mà là tiền thuê ruộng. Từ năm 2009 đến năm 2014 bà P cho bà L thuê miếng đất trên với giá 63.000.000 đồng trong suốt thời gian thuê (12.000.000 đồng/năm và tính cả tiền thuế, phí). Do đó tại biên nhận ngày 01/8/2008, bà P có ghi thêm dòng chữ là “để cho chị hai làm ruộng”. Bà P đã nhận đủ tiền thuê đất theo các biên nhận trên. Hiện nay bà P đã cho người khác thuê miếng đất này. Bà P không có tranh chấp gì về việc thuê hay chuyển nhượng đối với miếng đất này.

Bà P cho rằng không có vay tiền của bà L nên bà P không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L. Do các biên nhận mượn tiền đã lâu từ năm 2008, năm 2018 nên bà P yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với phần tiền lãi phát sinh từ các giấy mượn tiền ghi ngày 01/8/2008, 10/8/2008, 26/10/2008 và ngày 13/9/2018.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Vũ K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ triệu tập để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm nhưng ông K vắng mặt không có lý do.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 306/2024/DS-ST ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L.
  2. Bà Trần Thị Kim P có trách nhiệm thanh toán cho bà Trần Thị L số tiền vay là 63.000.000 đồng phát sinh từ các giấy mượn tiền ghi ngày 01/8/2008, ngày 10/8/2008, ngày 26/10/2008, ngày 13/9/2018 và tiền lãi phát sinh từ biên nhận mượn tiền ghi ngày 13/9/2018 là 2.013.699 đồng. Tổng cộng là 65.013.699 đồng (Sáu mươi lăm triệu không trăm mười ba nghìn sáu trăm chín mươi chín đồng).

    Thanh toán ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

2. Không chấp nhận yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện của bà Trần Thị Kim P.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.

Ngày 25/4/2024, bị đơn bà Trần Thị Kim P có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về cách giải quyết vụ án.

Bị đơn bà Trần Thị Kim P trình bày: Bà P thừa nhận có viết và ký vào các biên nhận nợ với số tiền là 63.000.000 đồng như bà L xuất trình. Tuy nhiên, số tiền này không phải là tiền nợ mà là tiền bà L trả cho bà P vì đã thuê ruộng của bà P canh tác từ năm 2009 đến năm 2014. Do đó, bà P đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L.

Nguyên đơn bà Trần Thị L trình bày: Bà L không thuê ruộng của bà P. Do là chị em ruột nên lúc bà P khó khăn bà đã cho bà P mượn tiền rất nhiều lần và đến nay bà P còn nợ bà L 63.000.000 đồng theo các biên nhận nợ mà bà L đã xuất trình. Nay bà L đồng ý không yêu cầu bà P trả tiền lãi đối với số nợ trên và cho bà P trả nợ làm 02 lần, lần thứ nhất vào ngày 05/9/2024 trả 33.000.000 đồng, lần thứ 2 vào ngày 05/3/2025 trả 30.000.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự cũng được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến phiên tòa hôm nay cho thấy việc bà L yêu cầu bà P trả số nợ gốc 63.000.000 đồng là có căn cứ. Tại phiên tòa hôm nay, bà L đồng ý cho bà P trả số tiền trên làm 02 lần và không yêu cầu trả lãi là có lợi cho bà P nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của bà L, sửa Bản án sơ thẩm về nội dung này.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ là các biên nhận mượn tiền do bà P viết và ký đề ngày 01/8/2008, ngày 10/8/2008, ngày 26/10/2008, ngày 13/9/2018, phù hợp với lời khai của bà L, bà P, có cơ sở xác định bà L có cho bà P vay số tiền là 63.000.000 (Sáu mươi ba triệu) đồng. Do đến nay bà P chưa trả số tiền này cho bà L nên bà L khởi kiện yêu cầu bà P trả lại số nợ gốc này là có cơ sở.

Phía bà P cho rằng, số tiền bà P nhận của bà L theo các biên nhận trên không phải là tiền vay mà là tiền bà L trả tiền thuê ruộng của bà P tại tỉnh Tiền Giang để canh tác từ năm 2009 đến năm 2014. Do đó, tại Biên nhận mượn tiền ngày 01/8/2008 bà P có ghi thêm dòng chữ “để chị H làm ruộng”. Tuy nhiên lời khai của bà P không được bà L thừa nhận, bà P lại không cung cấp được chứng cứ về việc bà L có thuê ruộng của bà P như hợp đồng thuê ruộng, giá cho thuê,... Trong khi, giấy mượn tiền chỉ có nội dung xác định số tiền bà P vay của bà L, không có nội dung trả tiền thuê ruộng hay cấn trừ số tiền vay vào tiền thuê ruộng. Việc bà P viết thêm dòng chữ “để chị H làm ruộng” tại biên nhận nợ ngày 01/8/2008 cũng không đủ cơ sở để cho rằng số tiền bà P nhận là trả tiền thuê ruộng, hai vấn đề này hoàn toàn khác nhau. Tại phiên tòa hôm nay, bà P không cung cấp thêm được chứng cứ nào khác để chứng minh cho lời trình bày của mình. Bản án sơ thẩm tuyên buộc bà P phải trả cho bà L số tiền nợ gốc nêu trên là có căn cứ.

Về tiền lãi: Bản án sơ thẩm tuyên bà P phải thanh toán cho bà L tiền lãi là 2.013.699 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, bà L đồng ý không tính lãi đối với số tiền bà P đang nợ. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của bà L và không xem xét về tiền lãi bà P phải trả cho bà L, sửa lại nội dung này của bản án sơ thẩm.

Về thời gian trả nợ: Bà L đồng ý cho bà P trả số nợ trên làm 02 lần trong vòng 06 tháng, cụ thể:

  • Lần 1: Ngày 05/9/2024 trả 33.000.000 (Ba mươi ba triệu) đồng.
  • Lần 2: Ngày 05/3/2025 trả 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng.

Xét thấy, theo quy định thì bà P sẽ phải thanh toán tiền cho bà L ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Việc bà L cho bà P thanh toán số nợ làm hai lần như trên là có lợi cho bà P nên ghi nhận.

Xét yêu cầu của bà P về việc áp dụng thời hiệu để đình chỉ giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Căn cứ vào các giấy mượn tiền ghi ngày 01/8/2008, 10/8/2008, 26/10/2008 và ngày 13/9/2018 thì bà L có mượn của bà P1 số tiền 63.000.000 đồng đến nay chưa trả. Theo quy định của pháp luật thì thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Tuy nhiên, việc vay mượn của các bên là không có kỳ hạn. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện của bà P là đúng pháp luật.

Từ sự phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Kim P; Chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; Ghi nhận sự tự nguyện của bà L không yêu cầu bà P trả tiền lãi và cho trả số nợ gốc làm hai lần như đã nêu và sửa lại phần này của Bản án sơ thẩm.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên điều chỉnh lại án cho phù hợp, bà Trần Thị Kim P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.150.000 đồng.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị Kim P phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ Khoản 1 Điều 148, Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • Căn cứ Điều 305, Điều 477 của Bộ luật Dân sự năm 2005;
  • Căn cứ Điều 357, Điều 468, Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Căn cứ Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Kim P.

Tuyên xử: Sửa Bản án sơ thẩm

  1. Buộc bà Trần Thị Kim P phải thanh toán cho bà Trần Thị L số tiền mượn là 63.000.000 đồng phát sinh từ các giấy mượn tiền ghi ngày 01/8/2008, ngày 10/8/2008, ngày 26/10/2008, ngày 13/9/2018 (Sáu mươi ba triệu) đồng. Việc thanh toán được thực hiện làm 02 lần:
    • Lần 01: Ngày 05/9/2024 trả 33.000.000 (Ba mươi ba triệu) đồng.
    • Lần 02: Ngày 05/3/2025 trả 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng.

    Kể từ ngày bà L có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bà P còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành tại thời điểm thanh toán.

  2. Không chấp nhận yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện của bà Trần Thị Kim P.
  3. Án phí dân sự sơ thẩm:
  4. Bà Trần Thị Kim P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.150.000 (Ba triệu một trăm năm mươi nghìn) đồng.

    Hoàn tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho bà Trần Thị L là 4.301.000 (Bốn triệu ba trăm lẻ một nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí toà án số AA/2021/0030098 ngày 06/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận.

  5. Về án phí dân sự phúc thẩm:
  6. Bà Trần Thị Kim P phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm mà bà P đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0032440 ngày 06/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà P đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND cấp cao tại Tp.HCM;
  • - VKSND cấp cao tại Tp.HCM;
  • - VKSND Tp.HCM;
  • - TAND quận phú Nhuận;
  • - Chi cục THADS quận Phú Nhuận;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hồng Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 740/2024/DS-PT ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 740/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger