Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ THUẬN THÀNH

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2024/HS-ST

Ngày 31/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Xuân Phong
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Dung
  • Ông Nguyễn Đăng Dũng
  • Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải - Thư ký TAND thị xã Thuận Thành
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Tôn – Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu phòng xét xử Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh B đã tiến hành xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 79/2024/TLST-HS ngày 05/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXXST-HS ngày 18/7/2024 đối với bị cáo:

Tạ Văn T, sinh năm 1993

HKTT: Thôn N, thị trấn V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội.

Nơi ở hiện tại: Khu phố H, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Tạ Văn V, sinh năm 1962 và con bà Nguyễn Thị V1, sinh năm 1968. Vợ, con: Chưa có.

Tiền án: 01 tiền án: Tại bản án số 25/2023/HS-ST ngày 24/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xử phạt Tạ Văn T 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tiền sự: Chưa có.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/3/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt

Người tham gia tố tụng khác:

  • Cán bộ phụ trách tin học thuộc TAND thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
  • Cán bộ phụ trách tin học thuộc Trại tạm giam công an tỉnh B

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 40 phút ngày 22/3/2024, tại khu vực ngã tư sân bóng khu phố Đ, phường S, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Tổ công tác công an phường S, thị xã T bắt quả tang Tạ Văn T, sinh năm 1993, HKTT: Thôn N, thị trấn V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ tại túi quần phía trước bên trái T đang mặc 01 hộp giấy loại đựng ghim bấm, mở ra bên trong có 01 túi ni lon màu trắng, viền kẻ túi màu xanh nước biển, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng. T trình bày chất tinh thể màu trắng là ma túy đá T được một người thanh niên không quen biết cho, T cất giấu để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra, còn tạm giữ của T 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anpha, sơn màu đen BKS 34P9 – 2727. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định, sau đó bàn giao T cùng toàn bộ vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T để giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 22/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T ra Quyết định trưng cầu giám định số 619 trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh B giám định chất ma túy thu giữ của T.

Ngày 25/3/2024, Phòng K - Công an tỉnh B có bản Kết luận giám định số 820/KL - KTHS kết luận: “Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) túi nilon màu trắng có viền kẻ màu xanh có khối lượng là 0,2841 gam; Là ma túy; Loại ma túy Methamphetamine”

Methamphetamine là chất ma túy được quy định tại Nghị định 57/2022/NĐCP ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Với nội dung trên, Cáo trạng số 76/CT-VKS-TT ngày 03/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành đã truy tố bị cáo Tạ Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 22/3/2024, bị cáo điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anpha, sơn màu đen BKS 34P9 – 2727 đi từ nhà ở khu phố H, phường H, thị xã T đến sân bóng khu phố Đ, phường S. Khi đi đến khu vực sân bóng bị cáo nhìn thấy người thanh niên đang đứng ở gần ghế đá gần sân bóng. Thấy bị cáo, người thanh niên này liền vẫy bảo bị cáo đi đến gần người đó. Khi đi đến gần, người thanh niên cho chị cáo một hộp bằng giấy màu trắng, loại hộp đựng ghim bấm, mở ra bên trong có 01 túi nilon màu trắng, viền kẻ màu xanh, trong túi nilon có chứa chất tinh thể màu trắng. Bị cáo biết đó là ma túy đá nên cầm và đút hộp giấy vào trong túi quần phía trước bên trái bị cáo đang mặc. Khi bị cáo đi ra đến khu vực ngã tư sân bóng để lên xe đi tìm nơi sử dụng ma túy thì bị tổ công tác của Công an phường S đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 76/CT-VKS-TT ngày 03/7/2024. Trong phần luận tội đã phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm, vai trò cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Tạ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Hình phạt và điều luật áp dụng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị:

    Xử phạt bị cáo Tạ Văn T từ 18 đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 22/3/2024.

    Áp dụng khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự chuyển 03 năm tù treo thành 03 năm tù giam buộc Tạ Văn T phải chấp hành hình phạt 03 năm tù tại Bản án số 25/2023/HS-ST ngày 24/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

    Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của 02 Bản án buộc Tạ Văn T phải chấp hành hình phạt chung từ 54 tháng đến 60 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 22/3/2024 nhưng được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/5/2022 đến ngày 08/8/2022.

  3. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghề nghiệp không ổn định không có tài sản riêng nên miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.
  4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư hoàn trả lại mẫu vật sau giám định.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo sau khi nghe luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, thừa nhận có tội, không tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã T, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếunại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ được và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở kết luận: Hồi 12 giờ 40 phút ngày 22/3/2024, tại khu vực ngã tư sân bóng khu phố Đ, phường S, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác Công an phường S, thị xã T đã bắt quả tang Tạ Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,2841 gam ma túy Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân. Như vậy, hành vi bị cáo tàng trữ 0,2841 gam ma túy Methamphetamine đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Cáo trạng truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng tới sức khỏe con người và là cầu nối của đại dịch HIV. Đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác như giết người, cướp tài sản. Hội đồng xét xử xét thấy đối với hành vi này của bị cáo cần phải xử lý với mức hình phạt nghiêm khắc thì mới có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung tội phạm trên địa bàn.

Về nhân thân của bị cáo thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu đã bị xét xử về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. HĐXX xét nhân thân của bị cáo khi lượng hình.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội khi chưa chấp hành xong bản án số 25/2023/HS-ST ngày 24/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Căn cứ nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy đối với lần phạm tội này của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thì mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo thành người tốt.

Mặt khác, với lần phạm tội này bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách nên bị cáo phải chuyển hình phạt 03 năm tù cho hưởng án treo của bản án số 25/2023/HS-ST ngày 24/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên thành 03 năm tù giam để tổng hợp với hình phạt của bản án mới.

Bên cạnh việc bị cáo phải chịu hình phạt chính là hình phạt tù, cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo nghề nghiệp không ổn định, không có tài sản riêng nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với mẫu vật còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành xét thấy cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anpha, sơn màu đen BKS 34P9 – 2727 thu giữ của T khi bắt quả tang. Quá trình điều tra đã có đủ cơ sở xác định chiếc xe trên là của bà Nguyễn Thị V1 (mẹ của T) mua lại của anh Phạm Văn G, sinh năm 1984; trú tại: xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương để làm phương tiện đi lại. Bà V1 không biết ngày 22/3/2024 T sử dụng chiếc xe trên để đi xin và tàng trữ ma túy. Do vậy, ngày 24/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại chiếc xe trên cho bà V1 và không xem xét xử lý đối với bà là phù hợp quy định của pháp luật. Khi nhận lại xe bà V1 không có yêu cầu gì về dân sự nên HĐXX không xem xét.

Liên quan trong vụ án:

Đối với người thanh niên đã cho T ma túy tại khu vực sân bóng thuộc khu phố Đ, phường S, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh: T khai nhận không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người thanh niên này. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T không có đủ cơ sở để xác minh làm rõ, khi nào làm rõ sẽ đề nghị xử lý sau là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo Tạ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 329, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

    Xử phạt bị cáo Tạ Văn T 18 tháng tù.

    Áp dụng khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự chuyển 03 năm tù cho hưởng án treo thành 03 năm tù giam buộc Tạ Văn T phải chấp hành hình phạt 03 năm tù tại Bản án số 25/2023/HS-ST ngày 24/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

    Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của 02 Bản án buộc Tạ Văn T phải chấp hành hình phạt chung là 4 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 22/3/2024 nhưng được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/5/2022 đến ngày 08/8/2022.

    Tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

  3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư hoàn trả lại mẫu vật còn lại sau giám định, có chữ ký và dấu niêm phong của Phòng K - Công an tỉnh B.
  4. (Các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 97 ngày 08/7/2024)

  5. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận;

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh
  • - VKSND thị xã Thuận Thành;
  • - Công an thị xã Thuận Thành;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Ninh;
  • - Trại TG Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Chi cục THADS thị xã Thuận Thành;
  • - Những NTGTT;
  • - Lưu HS, VP;

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Xuân Phong

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nguyễn Thị Kim Dung – Nguyễn Đăng Dũng

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA

PHIÊN TÒA

Ngô Xuân Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH về vụ án hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 74/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T phạm tôi tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger