|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 74/2024/HSST Ngày: 31/7/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Thanh;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thành Đô;
Bà Lê Thị Thân,
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa:
Ông Dương Thế Nam – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 70/2024/HSST ngày 19 tháng 7 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2024/QĐXXST – HS ngày 20 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Đặng Hoàng T, sinh năm 1999 tại tỉnh Bình Phước. Căn cước công dân số: [...]; Nơi cư trú: Thôn B, xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Xuân Q và bà Hoàng Thị K; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/4/2024 cho đến nay, (có mặt).
- Nguyễn Trung H, sinh năm 1995 tại tỉnh Đồng Nai. Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 26/4/2022. Nơi cư trú: Thôn G, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh L và bà Phan Thị Diệu P; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/4/2024 cho đến nay, (có mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Hoàng Thị K, sinh năm: 1979, (có mặt). Nơi cư trú: Thôn B, xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 16 tháng 4 năm 2024, Đặng Hoàng T và Nguyễn Trung H ngồi uống rượu tại nhà của T thuộc thôn B, xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước thì T rủ H đi mua ma tuý về sử dụng, thì H đồng ý. T liền điều khiển xe mô tô không biển số (mượn của bà Hoàng Thị K) chở H đến vườn xà cừ gần Ngã ba S, thuộc thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Khi đến nơi, T xuống xe đứng đợi, còn H tiếp tục điều khiển xe mô tô đi gặp H1 (không rõ nhân thân, lý lịch) mua một đoạn ống hút nhựa màu vàng - trắng bên trong chứa ma tuý được cất giấu trong 01 gói thuốc lá với giá 300.000 đồng. Mua xong, H điều khiển xe mô tô quay trở lại đưa cho T cầm gói thuốc lá bên trong chứa ma tuý, rồi H chở T trở về nhà. Khi đến đoạn đường liên thôn phía sau trụ sở Ủy ban nhân dân xã Đ thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện B phối hợp với Công an xã Đ kiểm tra phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong tang vật (ký hiệu M có chữ ký của T, H) và 01 điện thoại di động của H để điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại Kết luận giám định số: 415/KL-KTHS ngày 23/04/2024 của Phòng K1 – Công an tỉnh B, kết luận: Chất màu trắng (ký hiệu M có chữ ký của T, H) có trong 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,3346 gam.
Tại Cáo trạng số 75/CT –VKS.BĐ ngày 18/7/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố các bị cáo Đặng Hoàng T và Nguyễn Văn H2 về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát khẳng định nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố. Về tội danh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đặng Hoàng T và Nguyễn Trung H phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Về hình phạt, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- - Đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Hoàng T từ 12 đến 18 tháng tù.
- - Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H từ 12 đến 18 tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng
Hai bị cáo Đặng Hoàng T và Nguyễn Trung H thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng; Hai bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
-
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 16/04/2024, Đặng Hoàng T rủ Nguyễn Trung H cùng nhau mua ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,3346 gam của một người tên H1 (không rõ nhân thân, lý lịch) với giá 300.000 đồng tại khu vực vườn xà cừ gần ngã ba S, thuộc thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước để sử dụng. Mua xong H, điều khiển xe mô tô chở H1 về đến đoạn đường liên thôn phía sau trụ sở Ủy ban nhân dân xã Đ thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện B phối hợp với Công an xã Đ kiểm tra, bắt quả tang người cùng tang vật.
Lời khai nhận tội của hai bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm và hành vi phạm tội.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Đặng Hoàng T và Nguyễn Trung H đã phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Điều 49. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Như vậy, nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hại cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Hai bị cáo là người có đầy năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, do lỗi sống buông thả, dẫn đến nghiện ma túy nên mặc dù nhận thức rõ được mọi hành vi liên quan đến ma túy là vi phạm pháp luật, là nguyên nhân có thể gây ra nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác nhưng vẫn cố ý thực hiện.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015.
- Xét toàn bộ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy cần xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
-
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Đối với 01 xe mô tô không biển số qua tra cứu xác định là của bà Hoàng Thị K nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Hoàng Thị K.
Đối với 01 điện thoại di động của bị cáo Nguyễn Trung H không sử dụng làm phương tiện phạm tội nên đã trả lại cho bị cáo Nguyễn Trung H.
Các vật chứng nêu trên đã được trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Cần tịch thu tiêu hủy: Số ma tuý còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu số 415 của Phòng K1 - Công an tỉnh B.
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì ngoài hình phạt chính Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, do các bị cáo là người nghiện ma túy không có thu nhập ổn định nên miễn chấp hành hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
-
Về án phí: Buộc hai bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Đối Hoàng Thị Khuyên cho T mượn xe mô tô không biết T, H dùng vào việc mua ma tuý; không có tài liệu chứng cứ khác; không có căn cứ xử lý. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với người đàn ông tên H1 bán ma tuý cho H, T (không xác định được nhân thân, lý lịch). Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B tách ra tiếp tục xác minh xử lý sau. Nên Hội đồng xét xử không xem xet.
Quan điểm xử lý vụ án của đại diện Viện kiển sát tham gia phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố các bị cáo Đặng Hoàng T và Nguyễn Trung H phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- - Xử phạt bị cáo Đặng Hoàng T 01 năm, 03 tháng tù (một năm, ba tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày 17/4/2024.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H 01 năm, 03 tháng tù (một năm, ba tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày 17/4/2024.
-
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tuyên tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu 415 của Phòng K1 - Công an tỉnh B.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 0010165 ngày 30/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng)
-
Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Đặng Hoàng T và Nguyễn Trung H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Khắc Thanh |
Bản án số 74/2024/HSST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 74/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Hoang T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
