Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÁI NƯỚC

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2024/DS-ST

Ngày 31 – 5 – 2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Văn Mầm

Ông Nguyễn Quốc Trung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Khiếm là Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước tham gia phiên tòa: Bà Trần Bích Trâm – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 16 và 31 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 197/2022/TLST-DS ngày 05 tháng 7 năm 2022 về tranh chấp quyền sử dụng đất, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Triệu Thị T, sinh năm 1958 (có mặt).
  • Địa chỉ cư trú: Áp K, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau.
  • - Bị đơn: Ông Đinh Bá N, sinh năm 1963 (có mặt).
  • Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Trần Văn T1, sinh năm 1986 (vắng mặt).
    2. Ông Đinh Thanh V, sinh năm 1988 (vắng mặt).
    3. Ông Đinh Minh V1, sinh năm 1990 (vắng mặt).
    4. Đinh Ánh N1, sinh năm 1986 (vắng mặt).
  • Cùng địa chỉ cư trú: Ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 25/4/2022 và các lời khai tại Tòa án bà Triệu Thị T (nguyên đơn) trình bày:

Nguồn gốc phần đất diện tích 22.750 m², số thửa 61, 88, 92, tờ bản đồ số 12 do bà đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được cấp ngày 04/6/1999 là do cha mẹ để lại. Năm 2021 bà làm hồ sơ đo đạc tách quyền sử dụng đất thì ông N ngăn cản vì cho rằng bà lấn qua ranh đất của ông N nên hai bên xảy ra tranh chấp. Tại biên bản hòa giải ngày 15/11/2021 hai bên đã thống nhất cấm ranh xác định từ ranh ông Nguyễn Thành L đo qua 38 mét, phần hậu xác định ngay gốc dừa của bà đã xác định trước đây. Tuy nhiên, sau đó phía ông N không thực hiện như thỏa thuận. Sau khi tiến hành đo đạc thực tế phần đất tranh chấp có diện tích 308,7 m², trên phần đất tranh chấp không có công trình xây dựng gì, ông N có trồng một số cây tạp, ông N thống nhất không có yêu cầu gì, bà thống nhất với kết quả đo đạc và định giá, đất tranh chấp hiện nay không liên quan đến quyền lợi ai khác. Tuy nhiên, sau khi xác định phần đất tranh chấp giữa bà với ông Đinh Bá N thì Tòa án tiến hành đo đạc phần đất còn lại bà đang canh tác, sử dụng (trừ diện tích tranh chấp), do bà không biết nên khi xác định ngoài phần đất bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà còn xác định luôn phần đất của ông Triệu Văn Đ (anh ruột) có diện tích 3.600 m² giáp phần đất của bà, đất này ông T2 còn đứng tên nhưng đã cho ông Đ canh tác. Sau đó, bà có đơn yêu cầu đo đạc lại để trừ diện tích phần đất của ông Đ nhưng hiện nay giữa bà với ông Đ đang xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp nên không thống nhất vị trí phần đất của ông Đ đang canh tác. Do đó, bà yêu cầu Tòa án căn cứ vào diện tích bà được cấp giấy chứng nhận và trừ diện tích của ông Đ là 3.600 m² để xác định diện tích còn lại bà đang canh tác, sử dụng làm cơ sở để xem xét yêu cầu của bà.

Bà thừa nhận phần đất tranh chấp từ trước đến nay do ông N sử dụng. Tuy nhiên, khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1999 có đo đạc, các hộ giáp ranh ký đầy đủ và diện tích tranh chấp nằm trong giấy chứng nhận do bà đứng tên. Lý do, đất bà đứng tên nhưng ông N lại sử dụng do bà đi làm ăn, sau đó khi bà về định tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các con thì không thống nhất ranh giới nên bà mới yêu cầu địa phương giải quyết, không thống nhất nên mới khởi kiện, bà yêu cầu đo đạc đủ diện tích bà đã được cấp giấy chứng nhận. Nay bà yêu cầu ông N trả lại phần đất lấn chiếm có diện tích 308,7 m², đất tọa lạc tại ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau.

Tại biên bản hòa giải và các lời khai tại Tòa án, ông Đinh Bá N (bị đơn) trình bày:

Nguồn gốc phần đất tranh chấp do ông chuyển nhượng của ông Trần Văn T3, vào năm 1985, hiện nay ông T3 đang ở đâu thì ông không biết, khi chuyển nhượng có giấy tay nhưng đã thất lạc, chuyển nhượng 11 công tầm lớn, khi chuyển nhượng ông T3 cũng chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 1992, ông chuyển nhượng thêm của ông Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị S 02 công tầm lớn, tiếp đến năm 1993 chuyển nhượng của ông L1 thêm 01 công tầm lớn, chuyển nhượng có làm giấy tay, khi đó ông L1 và bà S cũng chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó, ông được cấp sổ xanh đối với diện tích ông nhận chuyển nhượng của ông T3 là 15.700 m². Vào năm 1997 nhà nước có chủ trương làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng do ông đi làm ăn xa nên chưa làm được. Sau này có đo đạc lại diện tích ông đang quản lý, sử dụng tổng diện tích 19.999 m², bao gồm luôn diện tích ông chuyển nhượng của ông T3 và ông L1, để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi tiến hành đo đạc thực tế phần đất tranh chấp, ông chỉ đo đạc phần đất ông chuyển nhượng của ông T3, không đo đạc phần đất ông chuyển nhượng của ông L1, vì hai phần đất không liền kề nhau. Đối với biên bản hòa giải ngày 15/11/2021 ông cũng thừa nhận thỏa thuận cấm ranh nhưng sau đó ông không đồng ý nên mới không cấm ranh.

Ông thống nhất với kết quả đo đạc và định giá, phần đất tranh chấp hiện nay có diện tích 308,7 m². Đối với phần đất bà T đo đạc đang canh tác, sử dụng (trừ diện tích tranh chấp) thì bà T chỉ đo luôn phần đất của ông Triệu Văn Đ (anh ruột), diện tích cụ thể thì ông không biết. Trên phần đất tranh chấp ông có trồng một số cây tạp, thống nhất không có yêu cầu gì trong vụ án này, đối với phần đất tranh chấp là do ông trực tiếp canh tác không liên quan gì đến các con ông, các con ông là N1, V1, V, T1 chỉ ở cùng với ông, không trực tiếp sử dụng phần đất này, ngoài ra Đinh Mỹ N2 cũng là con của ông nhưng đã ở nước ngoài không có quyền lợi, liên quan và cũng không còn ai khác có quyền lợi, liên quan. Về phần đất tranh chấp ranh với ông Nguyễn Minh Q diện tích 95 m² ông thống nhất không có yêu cầu gì trong vụ án này. Nếu sau này không thỏa thuận được với ông Q ông sẽ khởi kiện thành vụ kiện khác. Nay đối với yêu cầu khởi kiện của bà T thì ông không đồng ý, vì phần đất tranh chấp nằm trong diện tích đất ông đã kê khai và khi bà T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông không có ký tên hộ giáp ranh.

Tại phiên tòa:

T xác định sau khi tiến hành đo đạc lại phần đất bà đang canh tác, sử dụng trừ diện tích 3.600 m² của ông Triệu Văn Đ, thì diện tích thực tế bà canh tác, sử dụng là 20.315 m² nên yêu cầu ông N trả lại phần đất lấn chiếm có diện tích 308,7 m², đất tọa lạc tại ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau, vì phần đất tranh chấp nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà đứng tên.

Ông N không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho rằng phần đất tranh chấp nằm trong diện tích ông chuyển nhượng của ông Trần Văn T3, mặc dù ông chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng ông đã được cấp sổ xanh và đã đăng ký kê khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước phát biểu quan điểm về tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo trình tự quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Triệu Thị T. Buộc ông Đinh Bá N phải trả lại cho bà Triệu Thị T phần đất đã lấn theo đo đạc thực tế có vị trí tranh chấp từ các điểm 5, 6, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 36, với diện tích 308,7 m², đất tọa lạc tại ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Trần Văn T1, ông Đinh Thanh V, ông Đinh Minh V1 và bà Đinh Ánh N1 tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ Luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền:

Tranh chấp giữa nguyên đơn bà Triệu Thị T với bị đơn ông Đinh Bá N là tranh chấp quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Đinh Bá N có địa chỉ cư trú tại ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung vụ án:

Triệu Thị T yêu cầu ông Đinh Bá N trả lại phần đất lấn chiếm có diện tích theo đo đạc thực tế là 308,7 m², đất tọa lạc tại ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông N không đồng ý, cho rằng phần đất tranh chấp nằm trong diện tích đã kê khai và được cấp sổ xanh.

Hội đồng xét xử xét thấy, đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng, bà T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 22.750 m², số thửa 61, 88, 92, tờ bản đồ số 12, được cấp ngày 04/6/1999, nguồn gốc do cha mẹ tặng cho. Đối với ông N nguồn gốc phần đất tranh chấp do ông N nhận chuyển nhượng của ông T3 diện tích 11 công tầm lớn, khi chuyển nhượng có giấy tay nhưng đã thất lạc, ông T3 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó, ông N được cấp sổ xanh (không thể hiện cụ thể ngày tháng năm), với diện tích 15.700 m² (Sổ kê khai diện tích thuế, thu nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp và thuế nhà đất). Thấy rằng, tại Công văn số 466/CNVPĐKĐĐ ngày 11/12/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C xác định: “Qua đối chiếu hồ sơ lưu trữ thì phần đất ông N đang quản lý, sử dụng theo hệ bản đồ 299 thuộc thửa đất số 60, 94, tờ bản đồ số 12 do ông Đinh Bá N kê khai với tổng diện tích 15.860 m², trong đó diện tích đất ở 300 m², đất vườn 2.890 m², đất trồng lúa 12.670 m². Qua bản đồ địa chính thành lập năm 2017, phần đất thuộc thửa số 63, 91, tờ bản đồ số 5 do ông Đinh Bá N kê khai. Đồng thời, đối chiếu hồ sơ lưu trữ phần đất nêu trên chưa ghi nhận thông tin về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N”. Khi tiến hành đo đạc thực tế trừ diện tích tranh chấp ra thì diện tích bà T đang canh tác, sử dụng là 23.915 m², 23.915 m² này là bao gồm đo luôn phần đất do ông Triệu Văn T4 (cha ruột bà T) đứng tên 3.600 m² nhưng đã cho ông Triệu Văn Đ (anh ruột bà T) canh tác, sử dụng, ông N cũng thừa nhận là bà T đã chỉ (xác định) đo luôn phần đất của ông Đ, còn diện tích cụ thể thì ông N không biết. Sau khi tạm ngừng phiên tòa, ngày 21/5/2024 đã tiến hành đo đạc thực tế phần đất bà T canh tác, sử dụng (trừ diện tích tranh chấp) có diện tích 20.315 m² so với diện tích bà T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 22.750 m² thì diện tích thực tế bà T đang canh tác, sử dụng còn thiếu 2.435 m² (22.750 m² - 20.315 m²).

Đối với diện tích ông N đang canh tác, sử dụng, nguồn gốc là nhận chuyển nhượng của ông T3, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng diện tích ông N kê khai là 15.860 m². Khi tiến hành đo đạc thực tế trừ diện tích tranh, chấp diện tích ông N đang canh tác, sử dụng là 13.887,3 m² và diện tích giữa ông N với ông Nguyễn Minh Q tranh chấp ranh với nhau có diện tích 95 m² nhưng ông N thống nhất không có yêu cầu gì trong vụ án này, diện tích ông N đang canh tác, sử dụng là 13.887,3 m² so với diện tích ông N kê khai 15.860 m² thì ít hơn 1.972,7 m² (15.860 m² - 13.887,3 m²).

Tuy nhiên, phần đất hiện nay ông N đang canh tác, sử dụng thực tế chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông N tự kê khai với diện tích 15.860 m² là lớn hơn diện tích ông N được cấp sổ xanh 15.700 m². Khi cơ quan chuyên môn tiến hành thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải đo đạc cụ thể thực tế phần đất ông N đang canh tác, sử dụng là bao nhiêu chứ không căn cứ theo diện tích ông N tự kê khai mà cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, hiện nay ông N chỉ mới kê khai, chưa đo đạc cụ thể và chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không có căn cứ xác định phần đất tranh chấp có diện tích 308,7 m² nằm trong diện tích ông N kê khai.

Mặt khác, diện tích bà T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất so với diện tích thực tế đang canh tác, sử dụng thì còn thiếu diện tích 2.435 m², bà T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 22.750 m², từ ông Triệu Văn T4 chuyển quyền thừa kế tặng cho bà T. Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C cung cấp thì về trình tự, thủ tục, hồ sơ cấp giấy chứng nhận được thực hiện đúng quy định pháp luật. Về vị trí, thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà T đứng tên thể hiện các cạnh thẳng, không có vị trí gấp khúc so với bản vẽ hiện trạng, đối với vị trí tranh chấp do phía ông N xác định có các điểm gấp khúc từ vị trí 23 đến 28, chỉ có đoạn thẳng từ vị trí vị trí 6 đến vị trí 23. Trong khi, theo vị trí bà T xác định thì là các cạnh thẳng từ điểm 5 đến điểm 36 và từ điểm 36 đến điểm 29, không có các đoạn gấp khúc như ông N xác định. Với vị trí tranh chấp tại bản vẽ hiện trạng theo bà T xác định là phù hợp với vị trí theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà T đứng tên.

Từ những phân tích trên, có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Triệu Thị T. Buộc ông Đinh Bá N để trả lại cho bà T phần đất đã lấn chiếm theo đo đạc thực tế có vị trí tranh chấp từ các điểm 5, 6, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 36, với diện tích 308,7 m², đất tọa lạc tại ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau.

[4] Trên phần đất tranh chấp, ông N có trồng một số cây tạp, thống nhất không có yêu cầu gì trong vụ án này nên không đặt ra xem xét.

[5] Đối với các con của ông N là ông Trần Văn T1, ông Đinh Thanh V, ông Đinh Minh V1 và bà Đinh Ánh N1, ông N xác định chỉ ở cùng với ông, phần đất tranh chấp là do ông N trực tiếp canh tác, sử dụng không liên quan gì đến các con ông N kể cả Đinh Mỹ N2 là con của ông N đang ở nước ngoài. Đồng thời, các con ông N cũng không ai có ý kiến hay yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Đối với phần đất tranh chấp ranh giữa ông N với ông Nguyễn Minh Q diện tích 95 m², ông N thống nhất không có yêu cầu tranh chấp gì trong vụ án này. Nếu sau này không thỏa thuận được với ông Q thì ông N sẽ khởi kiện thành vụ kiện khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[7] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về chi phí đo đạc và định giá: Chi phí đo đạc và định giá tổng số tiền 33.229.000 đồng, buộc ông Đinh Bá N phải chịu toàn bộ do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận. Bà T đã dự nộp nên ông N phải trả lại cho bà T.

Đối với chi phí đo đạc số tiền 13.595.000 đồng, bà T tự chịu do đo đạc lại vào ngày 21/5/2024 để xác định phần đất bà T canh tác, sử dụng (trừ diện tích tranh chấp) do trước đây bà T xác định sai diện tích đang canh tác, sử dụng.

[9] Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc ông Đinh Bá N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự không có giá ngạch đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.

Triệu Thị T được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, do là người cao tuổi.

[10] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 175, 176, 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 166, 170, 203 Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Triệu Thị T.

  • [1] Về nội dung:
  • Buộc ông Đinh Bá N phải trả lại cho bà Triệu Thị T phần đất đã lấn theo đo đạc thực tế có vị trí tranh chấp từ các điểm 5, 6, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 36, với diện tích 308,7 m², đất tọa lạc tại ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau.
  • (Kèm theo bản vẽ hiện trạng ngày 31/5/2024 của Công ty TNHH MTV T5).
  • [2] Về chi phí đo đạc và định giá:
  • Triệu Thị T tự chịu chi phí đo đạc lại với số tiền 13.595.000 đồng, bà T đã nộp xong.
  • Buộc ông Đinh Bá N phải trả chi phí đo đạc và định giá cho bà Triệu Thị T tổng số tiền 33.229.000 đồng (Ba mươi ba triệu hai trăm hai mươi chín nghìn đồng).
  • Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
  • [3] Về án phí:
  • Ông Đinh Bá N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch 300.000 đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;
  • - Chi cục THADS cùng cấp;
  • - Phòng KTNV&THA;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Hiền

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2024/DS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 74/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Triệu Thị T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger