Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẮK R'LẤP

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2023/HS-ST

Ngày 30-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R'LẤP TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Vũ Văn Tuân.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Sơn và ông Nguyễn Như Tạ

Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Văn Chính – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk R'lấp, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R'lấp tham gia phiên tòa: ông Lê Minh Giáp - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk R'lấp, tỉnh Đắk Nông mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 73/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2023/QĐXXST-HS, ngày 20 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Ngọc Th, sinh năm 1998 tại tỉnh Đồng Nai; nơi đăng ký thường trú: Thôn 2, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước; chỗ ở trước khi phạm tội: Thôn 6, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: không nghề nghiệp; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Mvà bà Cao Thị T; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ ngày 23/3/2023 sau đó chuyển sang tạm giam – có mặt.
  2. Vi Quốc Tr, sinh năm 1998 tại tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Thôn 6, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: không nghề nghiệp; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Nùng; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn G (đã chết) và bà Hoàng Thị Th1; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ ngày 23/3/2023 sau đó chuyển sang tạm giam – có mặt.

Người có quyền L1, nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Trần Thế Ch, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn 3, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.
  • - Ông Phạm Văn L, sinh năm 1992 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn 3, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.
  • - Anh Đinh Đại Thắng L1, sinh năm 2000; địa chỉ: Thôn 9, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.
  • - Ông Đoàn Trung H, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng tháng 6/2022, Nguyễn Ngọc Th quen biết và ở cùng với Đoàn Trung H tại tiệm cầm đồ 369, địa chỉ: Bon S, xã Đ, huyện ĐắĐk R'lấp (H là chủ tiệm). Khoảng tháng 1/2023, H chuyển đến ở cùng phòng trọ với bạn gái tại thôn 6, xã Đ, huyện Đ nên H nhờ Th ở lại trông coi tiệm cầm đồ cho H. Khoảng đầu tháng 3/2023, Th đến thành phố Hồ Chí Minh chơi và gặp một người thanh niên tên H (không rõ nhân thân lai lịch) mua 20 viên thuốc lắc, 02 hộp khay (ma túy Ketamine) với giá 21.000.000 đồng mang về tiệm cầm đồ cất giấu nhằm mục đích sử dụng và bán kiếm lời; Vi Quốc Tr thỉnh thoảng đến tiệm cầm đồ chơi với Th; trong khoảng thời gian từ tối ngày 22/3/2023 đến rạng sáng ngày 23/3/2023 Th 02 lần bán ma túy cho Trần Thế Ch và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với Đinh Đại Thắng L1 tại tiệm cầm đồ; các lần Th bán ma túy cho Ch thì Tr là người đi giao ma túy và được Th trả công, cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 19 giờ ngày 22/3/2023, Th và Tr đang ở tiệm cầm đồ thì Ch gọi điện, nhắn tin cho Th qua mạng xã hội Zalo hỏi mua 02 viên thuốc lắc và “nửa hộp năm khay ma túy Ketamine”, Th báo giá 4.500.000 đồng và yêu cầu Ch chuyển tiền vào tài khoản số 10102346789 của Th tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội. Ch đồng ý và nói Th mang ma túy đến giao cho Ch tại khu vực xã N, huyện Đ. Sau khi nhận được 4.500.000 đồng do Ch chuyển khoản, Th đưa cho Tr 01 túi nilon bên trong có 02 viên thuốc lắc, 02 gói nilon chứa “nửa hộp năm khay ma túy Ketamine”, số điện thoại 0918.389.xxx của Ch và 500.000 đồng tiền công. Tr điều khiển xe mô tô BKS 48H1-211.32 đến thôn 3, xã N để giao ma túy cho Ch thì Phạm Hữu L là người ra nhận ma túy. Khoảng 21 giờ cùng ngày, Đinh Đại Thắng L1 đến tiệm cầm đồ chơi và đến khoảng 00 giờ ngày 23/3/2023 thì Th lấy 01 viên thuốc lắc, 01 túi nilon bên trong chứa ma túy Ketamine rủ L1 cùng sử dụng. Th dùng tay bẻ viên thuốc lắc thành 02 phần, Th uống một phần và đưa cho L1 uống phần còn lại. Sau đó, Th đổ “khay ma túy Ketamine” ra đĩa sứ, dùng 01 chiếc thẻ ATM nghiền mịn “khay”, chia “khay” thành nhiều đường nhỏ để Th và L1 thay phiên nhau sử dụng. Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 23/3/2023, Tr về lại tiệm cầm đồ thấy trên đĩa sứ có một số đường “khay” kẻ sẵn, 01 ống hút làm bằng tờ tiền Polime mệnh giá 10.000 đồng nên Tr lấy ống hút và hút 02 đường “khay” vào mũi bên trái của Tr rồi nằm nghe nhạc cùng với Th và L1.

Lần thứ hai: Khoảng 03 giờ ngày 23/3/2023, Ch sử dụng số điện thoại 0918.389.xxx gọi điện đến số 0981753848 của Th hỏi mua thêm 02 viên thuốc lắc và “nửa hộp năm khay ma túy Ketamine” và chuyển vào tài khoản của Th 4.500.000 đồng; Th lấy 02 viên thuốc lắc bỏ vào 01 túi nilon chứa “nửa hộp năm khay” đưa cho Tr điều khiển xe mô tô BKS 48H1-211.32 đi giao ma túy cho Ch. Khi đến vị trí hẹn Tr gọi điện thoại cho Ch không được và thấy nhiều người nên Tr về lại tiệm cầm đồ đưa lại số ma túy và 500.000 đồng cho Th; Th lấy 02 viên thuốc lắc ra khỏi túi nilon chứa “khay” bỏ vào 01 túi nilon có chứa 03 viên thuốc lắc khác rồi bỏ vào trong chiếc hộp giấy hình chữ nhật rồi cho vào balô màu xanh của Th để trong phòng ngủ. Khoảng 06 giờ cùng ngày, L1 thức dậy đi về còn Th và Tr ngủ lại tại tiệm cầm đồ. Đến 09 giờ cùng ngày, Th và Tr nghe tiếng gọi cửa nên Tr cầm các dụng cụ sử dụng ma túy xuống khu vực bếp rửa trôi chất ma túy và để các dụng cụ này tại đây. Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk R'lấp đã lập biên bản thu giữ toàn bộ ma túy và tang vật vụ án.

Thu giữ của Nguyễn Ngọc Th gồm: 05 viên nén màu cam nhạt, một mặt các viên nén có in hình quả lựu đạn có tổng khối lượng mẫu là 2,4369 gam (nghi là chất ma túy); chất rắn màu trắng dạng tinh thể đựng trong 08 gói zipper chỉ cam, đánh số thứ tự từ 1 đến 8 có khối lượng mẫu lần lượt là 1,6126 gam, 1,6899 gam, 1,6995 gam, 1,3918 gam, 1,6608 gam, 1,6446 gam, 1,6551 gam, 1,5216 gam (nghi là chất ma túy); chất rắn màu trắng dạng tinh thể đựng trong 01 gói zipper chỉ cam có khối lượng mẫu là 0,0102 gam (nghi là chất ma túy); chất rắn màu trắng bám dính trên bề mặt 01 thẻ ATM có in chữ QUACH THI THUY DUNG và số 970450995612327 có khối lượng mẫu là 0,0018 gam (nghi là chất ma túy); chất rắn màu trắng bám dính bên trong 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được quấn lại thành hình trụ tròn và cố định bằng vỏ đầu lọc thuốc lá có khối lượng mẫu là 0,005 gam (nghi là chất ma túy); chất rắn màu trắng bám dính trên bề mặt 01 đĩa sứ màu trắng, trên bề mặt có in hoa văn màu nâu, đường kính đĩa 22cm có khối lượng mẫu là 0,0133 gam (nghi là chất ma túy); 01 đĩa sứ màu trắng, loại đĩa tròn đường kính 22cm. 01 thẻ ATM bề mặt thẻ in chữ “DINH DAI THANG LOI”; 01 ống hút hình trụ tròn được cuốn bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng bên ngoài được cố định bằng vỏ đầu lọc thuốc lá; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu đen, số IMEI 1: 863294049989416, số IMEI 2: 863294049989408; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại: WINNER, SỐ máy: KC26E1228715, Số khung: 2606GY384302 có gắn BKS 93P2-390.01; số tiền 1.400.000 đồng; 01 ba lô màu xanh lam, mặt ngoài ba lô có in chữ VIVO; 60 túi nilon trong suốt, phần miệng túi có khóa bấm màu cam, loại túi hình chữ nhật, có cùng kích thước (4,0x5,2) cm, chưa qua sử dụng; 01 hộp giấy hình chữ nhật màu đen, kích thước (13,5x08x5,8)cm; 01 cân điện tử màu xám bạc dạng hình chữ nhật kích thước (12x06x02)cm; 01 đèn Led có dạng hình hộp chữ nhật, sơn màu đen, kích thước (9,5x7,5x6) cm, mặt trước có in dòng chữ “PARTY LIG” màu trắng; 01 loa nhãn hiệu JBL màu đỏ cam, hình tròn đường kính 17cm, dày 6,5m.

Thu giữ của Vi Quốc Tr gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, số IMEI 1: 860163043962658, số IMEI 2: 860163043962641; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER, màu xanh đen, số máy G3D4E986765, số khung: 1010KY216432 có gắn BKS 48H1-211.32.

Quá trình điều tra xác định xe mô tô BKS 48H1-211.32 và xe mô tô BKS 93P2-390.01 thu giữ của Nguyễn Ngọc Th và Vi Quốc Tr là tài sản hợp pháp của ông Võ Anh T; Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk R'lấp đã trả lại cho ông T.

Tại bản kết luận giám định số 97/KLMT-KTHS ngày 29/03/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đắk Nông kết luận: 05 (năm) viên nén màu cam nhạt, một mặt các viên nén có in hình quả lựu đạn đựng trong 01 (một) gói zipper chỉ cam có kích thước (4,0x5,3)cm được niêm phong trong bì thư có ghi “MẪU KHÁM XÉT 1” gửi giám định đều là ma túy, loại MDMA, có tổng khối lượng mẫu là 2,4369 gam; hoàn lại sau giám định có khối lượng mẫu là 2,3382 gam. Chất rắn màu trắng dạng tinh thể đựng trong 08 (tám) gói zipper chỉ cam đánh số thứ tự từ 1 đến 8 có đặc điểm mô tả như trên được niêm phong trong bì thư có ghi “MẪU KHÁM XÉT 2” gửi giám định đều là ma túy, loại Ketamine, có khối lượng mẫu lần lượt là 1,6126 gam, 1,6899 gam, 1,6995 gam, 1,3918 gam, 1,6608 gam, 1,6446 gam, 1,6551 gam, 1,5216 gam; hoàn lại sau giám định có khối lượng mẫu 12,4596 gam. Chất rắn màu trắng dạng tinh thể đựng trong 01 (một) gói zipper chỉ cam có kích thước (3,8x5,0) được niêm phong trong bì thư có ghi “MẪU KHÁM XÉT 3” gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, có khối lượng mẫu là 0,0102 gam; đã sử dụng hết cho công tác giám định. Chất rắn màu trắng bám dính trên bề mặt 01 (một) thẻ ATM có in chữ QUACH THI THUY DUNG và số 970450995612327 được niêm phong trong hộp giấy có ghi “MẪU KHÁM XÉT 4” gửi giám định là ma túy, loại Ketamine có khối lượng mẫu là 0,0018gam; đã sử dụng hết cho công tác giám định. Chất rắn màu trắng bám dính bên trong 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000đ được quấn lại thành hình trụ tròn và cố định bằng vỏ đầu lọc thuốc lá được niêm phong trong hộp giấy có ghi “MẪU KHÁM XÉT 4” gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng mẫu là 0,005 gam; đã sử dụng hết cho công tác giám định.

Chất rắn màu trắng bám dính trên bề mặt 01 (một) đĩa sứ màu trắng, trên bề mặt có in hoa văn màu nâu, đường kính đĩa 22cm được niêm phong trong hộp giấy có ghi “MẪU KHÁM XÉT 4” gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng mẫu là 0,0133 gam; đã sử dụng hết cho công tác giám định.

Tại biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 23/3/2023 của Công an huyện Đắk R'lấp xác định Nguyễn Ngọc Th, Vi Quốc Tr dương tính với chất ma túy là Methamphetamine – Amphetamine. Tại biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 06/5/2023 của Công an huyện Đắk R'lấp xác định Đinh Đại Thắng L1 âm tính với chất ma túy.

Tại bản Cáo trạng số: 53/CT-VKS-ĐL ngày 29/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R'lấp đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc Th về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Vi Quốc Tr về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Sau khi trả hồ sơ điều tra bổ sung xác định: Ngày 22/3/2023 khi Đinh Đại Thắng L1 đến chơi thì Th lấy ma túy và dụng cụ ra rủ L1 sử dụng; khi Tr về đến phòng ngủ thấy L1 đang sử dụng ma túy còn Th ngồi trên nệm, khi Tr ngồi cạnh Th thì Th nằm quay mặt ra cửa phòng sử dụng điện thoại. Một lúc sau Tr thấy đĩa sứ trên nền nhà có ma túy, ống hút làm từ tờ tiền Polime và thẻ ATM nên Tr cầm lên sử dụng sau đó nằm ngủ cạnh Th. Khi Tr sử dụng ma túy thì Th không biết. Tại văn bản số: 03/CV-VKS ngày 16/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R'lấp đã giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Th về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố; sau khi phân tích các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Th phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Vi Quốc Tr về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; áp dụng điểm b, p khoản 2 Điều 251; khoản 1 Điều 255; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Th từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy"; từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy". Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Ngọc Th phải chấp hành hình phạt chung là 10 năm đến 11 năm tù. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Vi Quốc Tr từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng vụ án: đề nghị tịch thu tiêu hủy đối với 2,3382 gam ma túy, loại MDMA và 12,4596 gam ma túy, loại Ketamine được hoàn lại sau giám định; 02 đĩa sứ; 02 thẻ ATM; 01 ba lô; 60 túi nilon; 01 hộp giấy; 01 cân điện tử; 01 đèn Led; 01 loa. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, bên trong gắn thẻ sim số 0981.753.848; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, bên trong gắn thẻ sim số 0769.407.213. Tổng số tiền 1.420.000 đồng (trong đó có 02 tờ tiền Polyme, mỗi tờ mệnh giá 10.000 đồng, Th sử dụng 02 tờ tiền trên làm đoạn ống hút dùng để sử dụng ma túy). Đối với số tiền 9.000.000 đồng Th có được do bán ma túy mà có Th đã chuyển vào tài khoản để chơi game hết 7.600.000 đồng nên đề nghị truy thu sung vào ngân sách nhà nước.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như Cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk R'lấp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R'lấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người liên quan không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Từ tối ngày 22/3/2023 đến rạng sáng ngày 23/3/2023, Nguyễn Ngọc Th, Vi Quốc Tr 02 lần bán trái phép chất ma túy, loại MDMA và Ketamine cho Trần Thế Ch tại Thôn 3, xã N, huyện Đ, mỗi lần bán với giá trị 4.500.000 đồng; Th đã nhận 9.000.000 đồng và Tr đã giao ma túy thành công lần thứ nhất, khi Tr đi giao ma túy lần thứ hai không gặp được Ch nên đã mang về đưa cho Th. Ngoài ra, Nguyễn Ngọc Th còn tàng trữ trái phép 2,4369 gam chất ma túy là MDMA và 12,8759 gam chất ma túy là Ketamine nhằm mục đích sử dụng và bán kiếm lời. Ngày 23/3/2023, Nguyễn Ngọc Th còn có hành vi cung cấp ma túy là MDMA và Ketamine, địa điểm, dụng cụ và cùng với Đinh Đại Thắng L1 sử dụng trái phép chất ma túy tại tiệm cầm đồ 369 thuộc Bon S, xã Đ, huyện Đ. Hành vi của Nguyễn Ngọc Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự. Hành vi của Vi Quốc Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Vi Quốc Tr có 02 lần sử dụng ma túy tại phòng ngủ của Th là do Tr tự sử dụng khi thấy ma túy và công cụ sử dụng đang để ở nền nhà; Th không rủ rê, không biết việc Tr sử dụng ma túy nên hành vi của Th không thuộc trường hợp tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy 02 lần trở lên và đối với 02 người trở lên.

“Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

...;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

...;

p) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này;”

Điều 255 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”.

Vì vậy, Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo đồng thời ăn năn hối cải nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Với hành vi bị cáo đã thực hiện và khối lượng ma túy đã mua bán, Hội đồng xét xử thấy rằng cần cách ly các bị cáo với xã hội một thời gian để cải tạo và giáo dục. Giữa các bị cáo là đồng phạm giản đơn, vai trò của bị cáo Th mang tính chủ động và tích cực hơn, có nhiều tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự hơn nên hình phạt áp dụng đối với Th cao hơn Tr.

[4]. Đối với Đinh Đại Thắng L1: Quá trình điều tra đã thu thập chứng cứ, tài liệu nhưng không xác định được việc L1 cung cấp dụng cụ (đĩa sứ, thẻ ATM) để sử dụng trái phép chất ma túy với Nguyễn Ngọc Th và Vi Quốc Tr. Ngoài lời khai của Th không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của L1 cùng với Th và Tr nên có căn cứ xử lý L1 về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Đối với hành vi của Trần Thế Ch và Phạm Văn L mua ma túy về để sử dụng đã bị xét xử về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" nên không đề cập xử lý trong vụ án này. Đối với hành vi của người nam giới tên H bán trái phép chất ma túy cho Th không xác định được nhân thân lai lịch nên không xem xét xử lý. Đối với hành vi của Đoàn Tr H: Quá trình điều tra xác định trước và sau thời điểm các bị cáo thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại tiệm cầm đồ 369 H không biết, không chứng kiến nên không cấu thành tội phạm.

[5]. Về xử lý vật chứng: Đối với 2,3382 gam MDMA và 12,4596 gam Ketamine còn lại sau giám định; 02 đĩa sứ; 02 thẻ ATM; 01 ba lô; 60 túi nilon; 01 hộp giấy; 01 cân điện tử; 01 đèn Led; 01 loa là công cụ phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 1.420.000 đồng (trong đó có 02 tờ tiền Polyme, mỗi tờ mệnh giá 10.000 đồng, Th sử dụng 02 tờ tiền trên làm đoạn ống hút dùng để sử dụng ma túy và 1.400.000 đồng có được từ việc bán ma túy); 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, bên trong gắn thẻ sim số 0981.753.848 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, bên trong gắn thẻ sim số 0769.407.213 là công cụ phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Đối với 7.600.000 đồng Th có được do bán ma túy cho Ch cần truy thu sung vào ngân sách nhà nước.

[6]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc Th phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo Vi Quốc Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
    1. Áp dụng điểm b, p khoản 2 Điều 251; khoản 1 Điều 255; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Th 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 10 (mười) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 23/3/2023.
    2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vi Quốc Tr 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 23/3/2023.
  2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Truy thu sung vào ngân sách nhà nước 7.600.000 (bảy triệu sáu trăm nghìn) đồng đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Th. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 1.420.000 (một triệu bốn trăm hai mươi nghìn) đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, bên trong gắn thẻ sim số 0981.753.848 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, bên trong gắn thẻ sim số 0769.407.213.

    Tịch thu tiêu hủy 2,3382 gam MDMA và 12,4596 gam Ketamine còn lại sau giám định; 02 đĩa sứ; 02 thẻ ATM; 01 ba lô; 60 túi nilon; 01 hộp giấy; 01 cân điện tử; 01 đèn Led và 01 loa.

    (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận ngày 31/8/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk R'lấp.)

  3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Ngọc Th và Vi Quốc Tr mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án đối với phần có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận :

  • - TAND tỉnh Đắk Nông;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R'lấp;
  • - Công an huyện Đắk R'lấp;
  • - Bộ phận hồ sơ Công an huyện Đ;
  • - Chi cục THA.DS huyện Đ;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú (để biết);
  • - Bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký tên và đóng dấu)

Vũ Văn Tuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2023/HS-ST ngày 30/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R'LẤP TỈNH ĐẮK NÔNG về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 74/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R'LẤP TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Từ tối ngày 22/3/2023 đến rạng sáng ngày 23/3/2023, Nguyễn Ngọc Th, Vi Quốc Tr 02 lần bán trái phép chất ma túy, loại MDMA và Ketamine cho Trần Thế Ch tại Thôn 3, xã N, huyện Đ, mỗi lần bán với giá trị 4.500.000 đồng; Th đã nhận 9.000.000 đồng và Tr đã giao ma túy thành công lần thứ nhất, khi Tr đi giao ma túy lần thứ hai không gặp được Ch nên đã mang về đưa cho Th. Ngoài ra, Nguyễn Ngọc Th còn tàng trữ trái phép 2,4369 gam chất ma túy là MDMA và 12,8759 gam chất ma túy là Ketamine nhằm mục đích sử dụng và bán kiếm lời. Ngày 23/3/2023, Nguyễn Ngọc Th còn có hành vi cung cấp ma túy là MDMA và Ketamine, địa điểm, dụng cụ và cùng với Đinh Đại Thắng L1 sử dụng trái phép chất ma túy tại tiệm cầm đồ 369 thuộc Bon S, xã Đ, huyện Đ.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger