|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 74/2024/HS-ST
Ngày 30-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Bình
Bà Phạm Thanh Tuyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đông Hải - Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 81/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Trương Chí N, sinh ngày 22 tháng 7 năm 2002 tại A, Kiên Giang; CCCD [...]; Nơi cư trú: ấp H, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Trương Văn T và bà Nguyễn Thị G; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/01/2024, đến ngày 21/01/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
- Phạm Đan T1, sinh ngày 13 tháng 10 năm 2001 tại A, Kiên Giang; CCCD [...]; Nơi cư trú: ấp H X, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Phạm Văn S và bà Mai Thị T2; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 12/01/2024, đến ngày 21/01/2024 thay đổi biện pháp ngăn chăn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
- Trần Thanh K, sinh ngày 11 tháng 9 năm 2005 tại A, Kiên Giang; CCCD [...]; Nơi cư trú: ấp G X, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hóa: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Trần Thanh K1 (Khỡi) và bà Bùi Thị B; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 12/01/2024, đến ngày 21/01/2024 thay đổi biện pháp ngăn chăn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
- Trương Thanh P, sinh ngày 30 tháng 9 năm 2002 tại A, Kiên Giang; CCCD [...]; Nơi cư trú: D N, phường R, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: giao hàng; trình độ văn hóa: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Trương Văn N1 (Nguyên) và bà Võ Thị Ngọc N2; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 12/01/2024, đến ngày 21/01/2024 thay đổi biện pháp ngăn chăn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
- Đỗ Văn L, sinh ngày 19 tháng 11 năm 2002 tại A, Kiên Giang; CCCD [...]; Nơi cư trú: ấp H, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hóa: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Đỗ Văn H và bà Nguyễn Thị N3; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 12/01/2024, đến ngày 21/01/2024 thay đổi biện pháp ngăn chăn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+Anh Lưu Nhật M, sinh năm 1997. Địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
+ Anh Trần Thanh P1, sinh năm 1990. Địa chỉ: ấp G, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ ngày 11/01/2024, Trương Thanh P đang nhậu ở cạnh quán C1 thuộc tỉnh lộ 967 khu phố B, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang, thì gặp Lưu Nhật M (C) đang làm việc trong quán cà phê nói trên, nên P gọi điện thoại cho bạn của mình là Trương Chí N hay (vì bạn của N nhờ N tìm Lưu Nhật M để lấy tiền còn thiếu là 2.500.000 đồng), nên khi nghe P đã tìm được M ở thị trấn T 11 thì N rủ Phạm Đan T1, Trần Thanh K và Đỗ Văn L cùng đi lấy tiền, cả nhóm từ xã T chạy xuống tới quán C1, thì lúc này P cũng đang ở đó, nhóm của N kéo vô quán và N đi lại hỏi M “Sao anh tao gọi mà mày không bắt máy?” vừa hỏi xong thì T1, P, cùng N, K và L nhàu tới dùng tay đánh vào đầu và người của M, trong quán lúc này có khoảng trên 15 người bị hoãn sợ, bỏ chạy tán loạn dưới đường tỉnh lộ 967 thì nhiều người dân đi đường tập trung lại xem làm mất an ninh trật tự, cả nhóm câu vật M xuống đất, dùng tay đánh M một lúc sau thì được mọi người can ra rồi cả nhóm của N lên xe chạy đi. Sau đó có lực lượng Công an đến hiện trường, còn Lưu Nhật M thì được đưa đến Trung tâm y tế huyện A điều trị vết thương.
Tại Cơ quan điều tra, các bị can: Trương Chí N, Phạm Đan T1, Trần Thanh K, Trương Thanh P và Đỗ Văn L đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Sau khi sự việc xảy ra, Lưu Nhật M không yêu cầu giám định thương tích.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra không thu giữ vật chứng gì trong vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình đánh nhau, các bị can đã làm hư hỏng một số tài sản của anh Lê Trung T3, nhưng anh T3 không yêu cầu bồi thường nên không xem xét. Đối với các khoản chi phí điều trị thương tích, anh Lưu Nhật M cũng không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
Tại Cáo trạng số 61/CT-VKS-AM ngày 17-6-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Trương Chí Nguyện, Phạm Đan Trường, Trần Thanh K, Trương Thanh P và Đỗ Văn L về tội Gây rối trật tự công cộng quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- Kiểm sát viên kết luận các bị cáo Trương Chí N, Phạm Đan T1, Trần Thanh K, Trương Thanh P và Đỗ Văn L phạm tội Gây rối trật tự công cộng và đề nghị:
- + Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Chí N từ 03 đến 06 tháng tù;
- + Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Đan T1, Trần Thanh K, Trương Thanh P, Đỗ Văn L mỗi bị cáo từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.
Về trách nhiệm dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì nên đề nghị không xem xét.
- Bị cáo trình bày: Các bị cáo Trương Chí N, Phạm Đan T1, Trần Thanh K, Trương Thanh P và Đỗ Văn L thừa nhận đã thực hiện hành vi vi phạm đúng như cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đã nêu, không đối đáp, tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng các bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân đã thực hiện, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do. Xét thấy họ đã có lời khai, không yêu cầu gì thêm nên tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[2] Về hành vi phạm tội, tội danh:
[2.1] Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 11/01/2024 tại quán C1 thuộc khu phố B, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang, Trương Chí N, Phạm Đan T1, Trần Thanh K, Trương Thanh P và Đỗ Văn L đến gặp anh Lưu Nhật M để đòi tiền. Lúc này tại quán C1 có khoảng 15 người. Khi thấy anh M thì N, T1, K, P và L cùng nhau dùng tay đánh vào người của anh M, làm cho những người có mặt tại quán cà phê hoãn sợ và bỏ chạy ra đường tỉnh lộ 967, sau đó có nhiều người dân đi đường tập trung lại để xem sự việc, gây mất an ninh trật tự tại nơi công cộng.
[2.2] Khi thực hiện hành vi, các bị cáo đều có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Vì mâu thuẫn cá nhân các bị cáo đã có hành vi đuổi đánh người khác gây mất an ninh trật tự; địa điểm các bị cáo đánh người khác tại nơi công cộng. Hành vi của các bị cáo gây náo loạn, ảnh hưởng sinh hoạt bình thường, phá vở tình trạng ổn định, có tổ chức, có kỷ luật ở nơi công cộng. Các bị cáo cùng thực hiện tội phạm nên là đồng phạm nhưng chỉ ở mức độ giản đơn, trong đó bị cáo N là người khởi xướng, rủ rê các bị cáo còn lại đến tìm anh M để đòi tiền, khi đến nơi thì các bị cáo cùng thực hiện hành vi đánh anh M tại nơi công cộng, gây hoãn sợ cho những người đang có mặt tại quán cà phê, gây hỗn loạn trên đường T là nơi lưu thông của rất nhiều phương tiện giao thông, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận các bị cáo Trương Chí N, Phạm Đan T1, Trần Thanh K, Trương Thanh P và Đỗ Văn L phạm tội Gây rối trật tự công cộng được quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Về hình phạt:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng hành vi của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng. Chỉ vì muốn giải quyết mâu thuẫn cá nhân mà các bị cáo đã đuổi đánh người khác. Hành vi của các bị cáo không chỉ gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội mà còn gây thiệt hại về quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Hành vi đó đã vi phạm các quy tắc sống lành mạnh, nếp sống văn minh xã hội chủ nghĩa, gây ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của mọi người ở nơi công cộng; ảnh hưởng lớn đến quản lý trật tự, trị an ở địa phương và gây ra sự bất bình, bức xúc trong dư luận của quần chúng nhân dân nên cần xử lý các bị cáo một mức án nghiêm nhằm răn đe bị cáo và giáo dục mọi người có ý thức và lựa chọn cách xử sự phù hợp pháp luật khi giải quyết mâu thuẫn cá nhân; tuân theo nếp sống văn minh tại nơi công cộng.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã đến cơ quan Công an đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
[3.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần xử phạt bằng hình phạt cải tạo không giam giữ là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo, nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Thấy các bị cáo có nghề nghiệp với thu nhập không ổn định, khó đảm bảo việc thi hành án nên miễn khấu trừ thu nhập.
Riêng đối với bị cáo N là người khởi xướng, rũ rê các bị cáo còn lại đi đánh người, dẫn đến việc phạm tội nên trách nhiệm hình sự cao hơn và phải xử phạt bằng hình phạt tù có thời hạn mới phù hợp với hành vi, tính chất của vụ án. Thấy bị cáo mới phạm tội lần đầu nên chỉ cần xử phạt ở mức đầu khung hình phạt là phù hợp, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
[4] Về trách nhiệm dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lưu Nhật M và anh Trần Thanh P1 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại gì nên không xem xét.
[5] Về án phí, các bị cáo N, T1, K, P và L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[6] Anh Lưu Nhật M không yêu cầu giám định thương tích và không yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự đối với việc bị các bị cáo đánh, cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý là phù hợp. Đối với Quách Minh C là người được Trần Thanh P1 thuê đi tìm Lưu Nhật M, đề nghị Viện kiểm sát, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố: Các bị cáo Trương Chí N, Phạm Đan T1, Trần Thanh K, Trương Thanh P và Đỗ Văn L phạm tội Gây rối trật tự công cộng.
- Căn cứ khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Chí N 03 (ba) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Đan T1 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Phạm Đan T1 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án.
Miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong giai đoạn thi hành án.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thanh K 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Trần Thanh K cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án.
Miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong giai đoạn thi hành án.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Thanh P 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Trương Thanh P cho Ủy ban nhân dân phường R, thành phố R, tỉnh Kiên Giang giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án.
Miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong giai đoạn thi hành án.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Văn L 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Đỗ Văn L cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án.
Miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong giai đoạn thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự, không xem xét.
- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, các bị cáo Trương Chí N, Phạm Đan T1, Trần Thanh K, Trương Thanh P và Đỗ Văn L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 30-7-2024). Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên quyền kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Lê Chí Công |
Bản án số 74/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về hình sự - gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 74/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Chí Ng và đồng bọn Gây rối trật tự công cộng
