|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 74/2024/HNGĐ- ST
Ngày: 28 tháng 9 năm 2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Tuấn
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Quách Thị Tình, ông Quách Hà Vính.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thắm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 70/2024/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 26/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 53/2024/QĐST- HNGĐ ngày 11/9/2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Trần Thị T - Sinh năm: 1985
- Nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
- Chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình.
- - Bị đơn: Anh Bùi Văn T1 - Sinh năm: 1976
- Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên toà có mặt chị T, vắng mặt anh T1 (Anh T1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 14/5/2024, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Trần Thị T trình bày: Chị T và anh Bùi Văn T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 26/9/2012 tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi chung sống, vợ chồng sống hoà thuận hạnh phúc được một thời gian ngắn thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh T1 không chịu khó làm ăn để cùng chị nuôi dạy con cái mà ham chơi bời, rượu chè. Nhiều lần anh T1 đã đánh đập chị. Chị T đã cố gắng chịu đựng để các con có đủ tình yêu thương của bố và mẹ nhưng đến đầu năm
2019 chị không thể chịu đựng được nữa, chị T đã về N. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay, chị T xác định tình cảm vợ, chồng không còn nên chị T yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh T1.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Bùi Duy T2, sinh ngày: 28/10/2012. Ly hôn, chị T có nguyện vọng giao cháu T2 cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng, chị T cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T1 mỗi tháng số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Toà án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập anh Bùi Văn T1 để nộp bản tự khai và thông báo tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T1 đều vắng mặt không có lí do.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS); nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Xử cho chị Trần Thị T được ly hôn anh Bùi Văn T1. Giao cháu Bùi Duy T2, sinh ngày: 28/10/2012 cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Chị T cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T1 mỗi tháng số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi.
- Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình và án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Trần Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn đối với anh Bùi Văn T1. Anh T1 có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Nên xác định đây là vụ án ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự, nhưng anh T1 vắng mặt không có lí do, tòa án đã tiến hành mở phiên họp vắng mặt anh T1 và thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ cho anh T1 theo khoản 3 Điều 210 BLTTDS. Anh T1 đã được triệu tập hợp lệ đến phiên hoà giải nhiều lần nhưng anh T1 đều không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây
là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 điều 207 BLTTDS.
Anh T1 cũng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tòa án xét xử vắng mặt anh T1.
[2] Về hôn nhân: Chị Trần Thị T và anh Bùi Văn T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn ngày 26/9/2012 tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T1 không quan tâm đến gia đình mà ham chơi, rượu chè, cờ bạc. Trong quá trình giải quyết vụ án tại các buổi hòa giải anh T1 không đến Tòa án để tham gia hòa giải mà không có lý do. Từ khi chị T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn đối với anh T1, anh T1 cũng không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh T1 không còn, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh T1 là có cơ sở, nên yêu cầu xin ly hôn của chị T được chấp nhận.
[3] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Bùi Duy T2, sinh ngày: 28/10/2012. Ly hôn, chị T có nguyện vọng giao cháu T2 cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng, chị T cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T1 mỗi tháng số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử thấy: Từ khi chị T và anh T1 sống ly thân đến nay cháu T2 đều ở với bố là anh T1, được anh T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Cháu T2 cũng có nguyện vọng được ở với bố. Để đảm bảo sự phát triển ổn định về mọi mặt cho cháu T2. Giao cháu T2 cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Chị T có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T1 mỗi tháng số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), đây là sự tự nguyện của chị T đồng thời từ khi sống ly thân đến nay anh T1 là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu T2, anh T1 trong quá trình giải quyết vụ án không có ý kiến gì, nguyện vọng được cấp dưỡn tiền nuôi con của chị T phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[4] Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82; Điều 83; Điều 110; Điều 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 2 điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Về hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị T được ly hôn anh Bùi Văn T1.
- Về con chung: Giao cháu Bùi Duy T2, sinh ngày: 28/10/2012 cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng, chị T cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T1 mỗi tháng số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).
Thời gian cấp dưỡng nuôi con từ tháng 9 năm 2024 đến khi cháu Bùi Duy T2 đủ 18 tuổi hoặc đến khi các bên đương sự có yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng khác.
Chị T có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cấm, cản trở.
Trường hợp có căn cứ để thay đổi người trược tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì thực hiện theo quy định tại điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về án phí: Chị Trần Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, và 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ. Chị T được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) chị đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành, theo biên lai số 0002341 ngày 05/7/2024. Chị T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn. Chị T còn phải nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt chị Trần Thị T, vắng mặt anh Bùi Văn T1. Chị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án. Anh T3 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Tuấn |
Bản án số 74/2024/HNGĐ- ST ngày 28/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 74/2024/HNGĐ- ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Thị T khởi kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con với Bùi Văn T1
