Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN H B

THÀNH PHỐ HP

Bản án số: 74/2024/HS-ST

Ngày 28-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H B, THÀNH PHỐ H P

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Yến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Ngọc Hải;

Ông Bùi Văn Khương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân quận H B, thành phố H P.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận H B, thành phố H P tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu Ngân và bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận H B, thành phố H P xét xử sơ thẩm C khai vụ án hình sự thụ lý số 77/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. H Đ C, sinh ngày 18 tháng 6 năm 2000 tại P T. Nơi ĐKHKTT: Khu 5, V P, thành phố V T, tỉnh P T; chỗ ở: Số 8/103 H V, phường S D, quận H B, thành phố H P; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; con ông H T T (đã chết) và bà P T T H; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 01/11/2023, tạm giam từ ngày 09/11/2023; có mặt.

2. L V H, sinh ngày 04 tháng 8 năm 2000 tại H P. Nơi cư trú: Thôn 3, H N 4, xã A H, huyện A D, thành phố H P; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; con ông L V H (đã chết) và bà T T H; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 06/11/2023, tạm giam từ ngày 09/11/2023; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Chị Q T H, sinh năm 2000; nơi ĐKHKTT: Bản C K, xã M É, huyện T C, tỉnh S L; chỗ ở: Số 34/856 T ĐT, phường S D, quận H B, thành phố H P; vắng mặt.

Chị Q T H, sinh năm 2004; nơi ĐKHKTT: Bản N D, xã H M, huyện Đ B, tỉnh Đ B; chỗ ở: Số 16/63 T V, A K 2, phường Đ L, quận H A, thành phố H P; vắng mặt.

Anh Đ H N, sinh năm 1994; nơi cư trú: Số 46/92 L T T, phường M C, quận N Q, thành phố H P; vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh D C Q, anh N H M, anh N V H, chị L T X; đều vắng mặt.

- Người chứng kiến: Ông B M H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 50 phút ngày 01/11/2023, C an quận H B, H P phát hiện tại khu vực đầu ngõ 103 đường H V, S D, H B, H P, H Đ C có biểu hiện bán trái phép chất ma tuý nên kiểm tra, lập biên bản bắt quả tang và thu giữ trong túi quần bên trái phía trước mà C đang mặc có: 01 túi giấy màu vàng bên trong có 02 túi nilon kích thước 03x03cm có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma tuý (mẫu QT01), 03 viên nén màu hồng nghi là ma tuý (mẫu QT02), 01 điện thoại di động Iphone màu vàng đã qua sử dụng.

Tiến hành khám xét nơi ở của H Đ C, thu giữ: Tại phòng ngủ tầng 2, trong túi quần bò màu xanh treo trên giá có 01 túi nilon kích thước 09x06cm bên trong có: 01 túi nilon kích thước 07x05cm đựng 08 viên nén màu hồng hình chữ nhật, 01 viên nén màu vàng hình tam giác nghi là ma túy (mẫu KX01); 07 túi nilon kích thước 2,5x2,5cm chứa chất tinh thể màu trắng nghi ma túy (mẫu KX02). Tại kệ tủ gỗ trong phòng ngủ tầng 2 có 01 đĩa sứ màu trắng bên trên có 01 thẻ nhựa màu trắng cam ghi chữ “vnitel”, 01 ống hút cuộn bằng tiền mệnh giá 50.000 đồng cố định bằng vỏ đầu lọc thuốc lá đều bám dính chất bột màu trắng nghi ma túy (mẫu KX04) và 02 túi nilon kích thước 2,5x2,5cm trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi ma túy (mẫu KX05); 01 bát sứ màu trắng bên trong có 01 chén sứ màu nâu đều bám dính tạp chất màu vàng cam nghi là ma túy (mẫu KX06). Tại vị trí trong tHU rác ở góc phòng có 01 vỏ túi nilon màu đỏ nhãn hiệu “Ferrari” trong có bám dính tạp chất nghi là ma túy (mẫu KX07). Trong phòng ngủ tầng 2 có 01 túi đeo chéo màu trắng bên trong có 01 ví cầm tay màu nâu có 200.000 đồng, 01 tập phong bì chưa sử dụng.

Tại thời điểm khám xét nơi ở của H Đ C, trong phòng ngủ có 03 đối tượng biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy, gồm: Q T H, sinh năm 2000, nơi ĐKHKTT: C K, M É, T C, S L; chỗ ở: Số 34/856 T Đ T, S D, H B, H P; Q T H, sinh năm 2004, nơi ĐKHKTT: N D, H M, Đ B; chỗ ở: Số 16/63 T V, A K 2, Đ L, H A, H P; L V H (tức L H T), sinh năm 2000, nơi cư trú: H N 4, A H, A D, H P.

2

Tại bản Kết luận giám định số 877/KL-KTHS ngày 08/11/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự C an thành phố H P, xác định: “Các mẫu nước tiểu của H Đ C, Q T H, L H T và Q T H đều tìm thấy chất ma túy, loại MDMA, Ketamine và Nimetazepam”.

Tại bản Kết luận giám định số 876/KL-KTHS ngày 08/11/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự C an thành phố H P, kết luận: “Tinh thể màu trắng mẫu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,47 gam, loại Ketamine. 03 viên nén màu hồng mẫu QT02 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,29 gam, loại MDMA; 08 viên nén màu hồng của mẫu KX01A gửi giám định là ma túy, có khối lượng 3,44 gam, loại MDMA; 01 viên nén màu vàng mẫu KX01B gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,51 gam, loại MDMA. Tinh thể màu trắng mẫu KX02 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 4,96 gam, loại Ketamine. Chất bột màu trắng bám dính trên đĩa sứ, thẻ nhựa và ống cuộn bằng tờ tiền mẫu KX04 gửi giám định là ma túy loại Ketamine, không đủ xác định khối lượng chất ma túy bám dính.Tinh thể màu trắng mẫu KX05 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,33 gam, loại Ketamine. Tạp chất màu vàng bám dính trong bát sứ và chén sứ mẫu KX06 gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại Ketamine và Nimetazepam, không đủ điều kiện xác định khối lượng chất ma túy. Tạp chất màu váng bám dính trong vỏ túi nilon mẫu KX07 gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại Ketamine và Nimetazepam, không đủ điều kiện xác định khối lượng chất ma túy”.

Tại Cơ quan điều tra, H Đ C khai nhận: Do không có việc làm nên giữa tháng 10/2023, C nảy sinh ý định bán ma túy kiếm lời. Thông qua mối quan hệ xã hội, C quen N nhà ở Trại Chuối và biết N bán ma túy. C liên hệ N hỏi mua 30.000.000 đồng ma túy. N đồng ý bán với giá 250.000 đồng/viên ma túy tổng hợp và 850.000 đồng/gói Ketamine, hẹn địa điểm giao ma túy tại khu vực đường tàu Bãi Sậy, Trại Chuối. Khi C đến điểm hẹn, có 01 người N giới không quen biết nhận 30.000.000 đồng và bỏ đi. Tiếp đó, có số điện thoại lạ gọi đến số máy của C, hướng dẫn C lấy ma túy đựng trong 01 phong bì để cạnh đường ray tàu hỏa trên đường Bãi Sậy. Sau khi nhận ma túy, C cất giấu tại nơi ở. C không nhớ có bao nhiêu viên ma túy tổng hợp và bao nhiêu gói ma túy Ketamine. C dự định bán 300.000 đồng/viên ma túy tổng hợp và 1.200.000 đồng/gói Ketamine.

Khoảng 01 giờ ngày 24/10/2023, Đ H N, sinh năm 1994, chỗ ở: Số 46/92 L T T, M T, N Q, H P nhắn tin vào máy điện thoại của C hỏi mua 02 viên ma túy tổng hợp và 03 gói Ketamine. C đồng ý bán với giá 300.000 đồng/viên ma túy tổng hợp, 900.000 đồng/gói Ketamine và 200.000 đồng tiền C giao ma túy. Tổng số tiền Đ H N thanh toán là 3.500.000 đồng và chuyển khoản vào số tài khoản của C. Sau đó, C nhắn tin nhờ L V H đi giao ma túy giúp, HU đồng ý. HU mang ma túy trên để trước cửa nhà N và báo lại với C, C thông báo N ra ngoài cửa lấy ma túy. Khi bán ma túy cho N, C được hưởng lợi 450.000 đồng.

Khoảng 21 giờ 24 phút ngày 01/11/2023, C đang ở nhà thì có đối tượng N giới có tài khoản zalo “khách Thảo” gọi điện thoại hỏi mua 03 viên ma túy tổng

3

hợp và 02 gói Ketamine. Hai bên thỏa thuận mua bán giá 300.000 đồng/viên ma túy tổng hợp và 1.200.000 đồng/gói Ketamine, hẹn địa điểm giao ma túy tại khu vực bến xe Thượng Lý. C chuẩn bị ma túy như khách yêu cầu, cất giấu vào 01 túi giấy màu vàng, để tại túi quần phía trước bên trái và đi bộ ra điểm hẹn. Khi C đi đến khu vực đầu ngõ 103 H V thì bị C an kiểm tra bắt quả tang, thu giữ cùng vật chứng.

Ngoài ra, H Đ C còn khai nhận: Rạng sáng ngày 01/11/2023, sau khi đi ăn cùng bạn gái là Q T H, C và H về nơi ở của C nghỉ. Sau đó, bạn của H là HA có chuyện buồn nên H rủ HA đến nhà C ngủ cùng. Tại đây, C rủ H và HA sử dụng ma túy. C lấy 02 viên ma túy tổng hợp bẻ làm 04 phần, C tự sử dụng 01 phần, đưa cho H và HA mỗi người 01 phần. Khoảng 30 phút sau, C tiếp tục lấy Ketamine đổ ra đĩa, dùng thẻ điện thoại tán nhuyễn và tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng cuộn thành ống tẩu, cố định bằng đầu lọc thuốc lá và sử dụng Ketamine bằng hình thức hít vào cơ thể. C hít Ketamine trước và C lần lượt đưa ống tẩu mời H, HA sử dụng ma túy. Sau đó, C tiếp tục lấy bát pha ma túy “nước vui” đựng trong túi nilon màu đỏ nhãn hiệu “FERRARI”, C tự uống sử dụng trước; tiếp đến, C lần lượt múc dung dịch ma túy ra cốc, mời H và HA sử dụng. Trong khi C, H, HA đang sử dụng ma túy thì L V H đến chơi; C mời HU sử dụng 01 phần viên ma túy còn lại, sau đó HU lấy đĩa ma túy Ketamine tự hít vào cơ thể và tự lấy ma túy “nước vui” trong bát sứ uống. Khi sử dụng ma túy, C, H, HA và HU không bàn bạc từ trước; H, HA, HU không phải đóng góp gì khi dùng ma túy tại nhà C.

Nguồn gốc ma túy tổng hợp, Ketamine mà C, H, HA, HU sử dụng là của C, C lấy từ ma túy mua của đối tượng tên N nhà ở Trại Chuối. Nguồn gốc ma túy “nước vui” đựng trong túi nilon màu đỏ nhãn hiệu “FERRARI” là C mua tại khu vực hầm chui phường Trại Chuối của đối tượng N giới có biệt danh “Junie” (chưa rõ lai lịch) vào giữa tháng 10/2023 với giá 2.000.000 đồng. Số ma túy thu giữ tại nơi ở của C khi khám xét, C khai nhận của C mua với mục đích bán cho người khác để hưởng lợi. C an quận H B bắt khẩn cấp đối với L V H.

Tại Cơ quan điều tra L V H khai nhận: HU biết C bán ma túy từ tháng 10/2023. Khoảng 01 giờ ngày 24/10/2023, C liên lạc bảo HU mang “3g, 2v” đến nhà N và HU hiểu ý là mang 03 gói ma túy Ketamine và 02 viên ma túy tổng hợp đến nhà N. HU đồng ý và đi đến khu vực đầu ngõ 103 H V gặp C, C đưa HU 01 phong bì bên trong đựng ma túy. HU mang phong bì có ma túy đến trước cửa nhà N để và thông báo lại với C, C liên lạc điện thoại thông báo với N đã giao ma túy thành C. Khi HU đi giao ma túy không được hưởng lợi gì. Ngoài ra, HU khai nhận ngày 01/11/2023, HU đến nhà C chơi, được C mời ½ viên ma túy tổng hợp nhưng HU bị đau dạ dày nên vứt đi, không sử dụng. HU nhìn thấy Ketamine trên đĩa sứ và ma túy nước pha sẵn trong bát sứ nên HU tự lấy và sử dụng 02 loại ma túy. Việc sử dụng ma túy, HU không phải đóng góp gì.

Q T H, Q T H khai nhận tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau về việc ngày 01/11/2023, H và HA không bàn bạc với C sử dụng ma túy. Tại nhà C, C chủ động

4

mời H, HA mỗi người ½ viên ma túy tổng hợp và ma túy tổng hợp; cả hai sử dụng bằng hình thức hít Ketamine và uống nước ma túy do C pha. H, HA không đóng góp khi sử dụng ma túy.

Vật chứng của vụ án:

- 01 bì giấy có dấu niêm phong số 876MT/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự C an H P bên trong chứa số ma túy còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao bì; 01 điện thoại di động Iphone có số Imei: 353904100056536 của H Đ C đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Iphone có số Imei: 358863661103035 của L V H đã qua sử dụng; 01 quần bò màu xanh của H Đ C; 01 túi đeo chéo màu trắng và 01 ví màu nâu (đều đã qua sử dụng); số tiền 200.000 đồng; 01 tập phong bì chưa qua sử dụng.

- 01 bì giấy có dấu niêm phong số 876MT-B/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự C an H P bên trong có tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng (đã chuyển kho bạc Nhà nước thành phố H P).

Tại bản Cáo trạng số 52/CT-VKSHB ngày 05/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận H B, thành phố H P truy tố: H Đ C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; truy tố L V H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Các bị cáo H Đ C, L V H khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận H B, thành phố H P truy tố và nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là chị Q T H, chị Q T H, anh Đ H N và người chứng kiến là ông B M H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, họ đã có lời khai có trong hồ sơ vụ án, được Hội đồng xét xử C bố C khai tại phiên toà, thể hiện nội dung phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận H B, thành phố H P giữ quyền C tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo, Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận H B đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng các điểm b, p khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 56 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt H Đ C mức án từ 11 năm tù đến 12 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và mức án từ 09 năm tù đến 10 năm tù tội “Tổ chức sử dụng trái phép

5

chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội với mức án từ 20 năm tù đến 22 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo C. Bị cáo C phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 450.000 đồng để sung quỹ nhà nước.

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt L V H mức án từ 03 năm tù đến 04 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

- Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định. Tịch thu sung C quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone của H Đ C, 01 điện thoại di động Iphone của L V H và số tiền 50.000 đồng. Trả lại bị cáo H Đ C số tiền 200.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án. Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Sau khi kết thúc phần tranh luận, các bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt, tạo điều kiện để các bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra C an quận H B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận H B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người chứng kiến vắng mặt. Xét thấy, những người này đã được Tòa án triệu tập hợp lệ; tại phiên tòa, các bị cáo, Kiểm sát viên đều đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt họ vì trước đó họ đã có lời khai tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên.

- Về tội danh:

[3] Lời khai nhận tội của các bị cáo H Đ C và L V H tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định hàm lượng ma túy, lời khai của người có liên quan, người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, khẳng định: Do không có C việc ổn định, H

6

Đ C nảy sinh ý định mua ma túy về bán cho người khác kiếm lời. Ngày 24/10/2023, bị cáo H Đ C bán trái phép 02 viên ma túy tổng hợp và 03 gói ma túy Ketamine cho Đ H N với giá 3.500.000, thu lời được số tiền 450.000 đồng; số ma túy trên C nhờ L V H đi giao cho N. Ngày 01/11/2023, bị cáo H Đ C bán trái phép 03 viên ma túy tổng hợp (1,29 gam MDMA) và 02 gói ma túy Ketamine (1,47 gam Ketamine) cho người đàn ông không quen biết nhưng chưa kịp giao ma túy thì bị bắt quả tang. Khám xét khẩn cấp nơi ở của H Đ C thu giữ 3,95 gam MDMA và 6,29 gam Ketamine. Tổng khối lượng ma túy C cất giấu nhằm mục đích bán kiếm lời là 5,24 gam MDMA và 7,76 gam Ketamine. Ngoài ra, trong ngày 01/11/2023, bị cáo H Đ C còn có hành vi đưa trái phép chất ma tuý MDMA và Ketamine vào cơ thể Q T H, Q T H và L V H. Như vậy, hành vi cất giấu MDMA, Ketamine trong người và tại nơi ở nhằm mục đích mua bán để hưởng lợi và hành vi đưa trái phép chất ma tuý MDMA, Ketamine vào cơ thể người khác của bị cáo H Đ C đủ cấu thành phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo Điều 251 và Điều 255 Bộ luật Hình sự. Bị cáo L V H có hành vi giúp sức cho bị cáo C bán ma túy cho Đ H N nên đồng phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điều 251 Bộ luật Hình sự.

- Về định khung hình phạt:

+ Đối với hành vi Mua bán trái phép chất ma túy:

[4] Ngày 24/10/2023, bị cáo H Đ C bán trái phép ma túy MDMA và Ketamine cho Đ H N. Ngày 01/11/2023, C tiếp tục bán trái phép 1,29 gam MDMA và 1,47 gam Ketamine; thu giữ tại nơi ở của bị cáo C 3,95 gam MDMA và 6,29 gam Ketamine. Tổng khối lượng ma túy C cất giấu nhằm mục đích bán kiếm lời là 5,24 gam MDMA và 7,76 gam Ketamine. Căn cứ khoản 3 Điều 5 Nghị định số 19 ngày 02/02/2018 của Chính phủ thì tỷ lệ phần trăm khối lượng của 5,24 gam MDMA so với khối lượng MDMA tối thiểu quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự là: (5,24 gam MDMA : 30 gam MDMA) x 100% = 17,4%, tỷ lệ phần trăm khối lượng của 7,76 gam Ketamine so với khối lượng Ketamine tối thiểu quy định tại điểm e khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự là: (7,76 gam Ketamine : 100 gam Ketamine) x 100% = 7,76%. Như vậy, tổng tỷ lệ phần trăm khối lượng MDMA và Ketamine dưới 100% nên lượng ma tuý bị cáo H Đ C sử dụng vào việc mua bán thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Do đó, bị cáo H Đ C phải chịu tình tiết định khung hình phạt “Phạm tội hai lần trở lên” và “Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này” theo các điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[5] Bị cáo L V H được bị cáo C giao nhiệm vụ đi đưa 02 viên ma túy MDMA và 03 gói Ketamine cho Đ H N. Do số ma túy trên N đã sử dụng hết nên không có căn cứ xác định khối lượng ma túy. Vì vậy, xác định bị cáo HU đồng

7

phạm với bị cáo C thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

+ Đối với hành vi Mua bán trái phép chất ma túy:

[6] Bị cáo H Đ C tổ chức cho Q T H, Q T H và L V H sử dụng trái phép chất ma tuý nên phải chịu tình tiết định khung hình phạt “Đối với 02 người trở lên” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

- Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

[7] Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm, đã xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước về cất giữ các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo mua bán ma túy với số lượng lớn và tổ chức cho nhiều người sử dụng ma túy nên cần phải được xử lý nghiêm, phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[8] Các bị cáo cùng nhau thực hiện tội phạm nên phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm theo Điều 17 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, khi quyết định hình phạt cần xem xét vai trò của từng bị cáo trong đồng phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo để phân hóa tội phạm cũng như áp dụng mức hình phạt tương xứng theo quy định tại Điều 58 Bộ luật Hình sự.

- Xét vai trò của các bị cáo về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy:

[9] Bị cáo C là người mua ma túy về để bán kiếm lời. Bị cáo HU giúp bị cáo C đưa ma túy cho người mua. Như vậy, bị cáo C là người chủ mưu, bị cáo HU là người giúp sức nên mức hình phạt của bị cáo C phải cao hơn so với mức hình phạt của bị cáo HU.

- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và mức hình phạt:

[10] Nhân thân các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, đều có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải. Vì vậy, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

[11] Ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 251, khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét lượng ma túy cất giấu trái phép nhằm mục đích mua bán của bị cáo H Đ C là tương đối nên cần phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo C là có căn cứ. Bị cáo HU không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo L V H.

- Về thu lời bất chính:

8

[12] Đối với lần bị cáo C bán ma túy cho Đ H N ngày 24/10/2023, được hưởng lợi 450.000 đồng. Xét đây là tiền bị cáo C thu lời bất chính từ việc thực hiện hành vi phạm tội mà có nên cần buộc bị cáo H Đ C phải nộp lại 450.000 đồng để sung vào C quỹ nhà nước theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác:

[13] Căn cứ vào các điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần: Tịch thu tiêu hủy đối với những đồ vật cấm lưu hành, gồm: 01 bì giấy có dấu niêm phong số 876MT/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự C an H P bên trong chứa số ma túy còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao bì; 01 bì giấy có dấu niêm phong số 876MT-B/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự C an H P; 01 quần bò màu xanh; 01 túi đeo chéo màu trắng; 01 ví màu nâu (đều đã qua sử dụng); 01 tập phong bì chưa qua sử dụng. Tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với những tài sản các bị cáo sử dụng vào việc liên lạc giao dịch mua bán, tổ chức sử dụng ma túy gồm: 01 điện thoại di động Iphone có số Imei: 353904100056536 của H Đ C đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Iphone có số Imei: 358863661103035 của L V H đã qua sử dụng; 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng; số tiền 200.000 đồng hiện đang được lưu giữ tại Kho bạc nhà nước H P.

[14] Đối với L V H, Q T H, Q T H có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, C an quận H B đã lập hồ sơ xử lý hành chính là có căn cứ.

[15] Đối với Đ H N mua ma túy của C và bản thân đã sử dụng hết, quá trình điều tra không xác định được khối lượng ma túy N đã mua, nhân thân N chưa có tiền án tiền sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy nên không đủ cơ sở xử lý hình sự đối với N, C an quận H B đã xử lý hành chính đối với N về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ.

[16] Đối với đối tượng N giới tên N nhà ở khu vực Trại Chuối; người N giới có biệt danh “Junie” bán ma túy cho C và người N giới có tài khoản zalo là “khách Thảo” hỏi mua ma túy của C hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên C an quận H B tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau là có căn cứ.

[17] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 56 Bộ luật Hình sự, tuyên bố: Bị cáo H Đ C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

9

Xử phạt: Bị cáo H Đ C 11 (mười một) năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và 09 (chín) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội là 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 01/11/2023.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố: Bị cáo L V H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Xử phạt: Bị cáo L V H 03 năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 06/11/2023.

- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, phạt tiền bị cáo H Đ C số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng để sung vào C quỹ nhà nước.

- Về thu lời bất chính: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Buộc bị cáo H Đ C phải nộp lại số tiền thu lời bất chính là 450.000 (bốn trăm năm mươi nghìn) đồng để sung vào C quỹ nhà nước.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì giấy có dấu niêm phong số 876MT/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự C an thành phố H P bên trong chứa toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao bì; 01 (một) hộp giấy có dấu niêm phong số 876MT-B/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự C an thành phố H P; 01 (một) bì giấy có dấu niêm phong số 876MT-A/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự C an thành phố H P; 01 (một) tập phong bì màu trắng chưa qua sử dụng; 01 (một) quần bò màu xanh của H Đ C; 01 (một) túi đeo chéo màu trắng và 01 ví màu nâu (đều đã qua sử dụng).

+ Tịch thu sung C quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động Iphone có số Imei 353904100056536 của H Đ C đã qua sử dụng; 01 (một) 01 điện thoại di động Iphone có số Imei 358863661103035 của L V H đã qua sử dụng và số tiền 50.000 (năm mươi nghìn) đồng; số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng hiện đang được lưu giữ tại Kho bạc nhà nước H P.

(Đặc điểm theo Quyết định chuyển vật chứng số 40/QĐ-VKSHB ngày 02/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận H B; Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/5/2024 giữa C an quận H B và Chi cục Thi hành án dân sự quận H B; Biên lai thu tiền số 0002613 ngày 07/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận H B, thành phố H P; Phiếu nhập kho ngày 03/5/2024 của Kho bạc nhà nước H P)

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý

10

và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc các bị cáo H Đ C, L V H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án (vắng mặt) có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận H B;
  • - VKSND thành phố H P;
  • - TAND thành phố H P;
  • - Cơ quan Điều tra C an quận H B;
  • - Cơ quan THAHS C an quận H B;
  • - C an thành phố H P;
  • - Trại tạm giam H P;
  • - Chi cục THADS quận H B;
  • - Sở Tư pháp thành phố H P;
  • - Bị cáo; Người có liên quan đến vụ án;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hải Yến

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H B, THÀNH PHỐ H P về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 74/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H B, THÀNH PHỐ H P
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger