Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2024/HS-ST

Ngày 28 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lãnh Văn Việt;

Ông Tạ Văn Doanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Diệp Văn Vĩ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên tòa: Ông Đào Duy Đông - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Đàm Văn T

Đàm Văn T, sinh năm 1987; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; T: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Bố đẻ: Đàm Văn S; Mẹ đẻ: Hoàng Thị N; Vợ: Nguyễn Thị H; Con: Có 02 con. Lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2013; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 08/3/2023, Công an xã P quyết định xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền 1.500.000 đồng) theo Quyết định số 04, về hành vi Đánh bạc. Ngày 08/3/2023, bị cáo đã nộp đủ tiền phạt, bị cáo tại ngoại “có mặt”.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Ngô Văn P, sinh năm 1990 “vắng mặt”.
  2. Anh Tàng Văn N1, sinh năm 1971 “vắng mặt”.
  3. Bà Tàng Thị D, sinh năm 1954 “vắng mặt”.
  4. Ông Trương Ngọc B, sinh năm 1967 “vắng mặt”.

Cùng địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  1. Bà Tàng Thị S1, sinh năm 1962 “vắng mặt”.

Địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  1. Anh Lục Văn B1, sinh năm 1981 “vắng mặt”.

Địa chỉ: Thôn Q, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

* Người làm chứng: Anh Ngô Văn N2, sinh năm 1984 “vắng mặt”.

Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 30 phút ngày 24/02/2024, tại vườn táo của gia đình ông Trương Ngọc B, sinh năm 1967, trú tại thôn T, xã P, huyện L. Công an xã P, huyện L phát hiện, lập biên bản bắt giữ các đối tượng đánh bạc bằng hình thức đánh xóc đĩa được thua bằng tiền, bắt giữ 05 đối tượng gồm:

  1. Đàm Văn T, sinh năm 1987, trú tại thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  2. Tàng Thị D, sinh năm 1954, trú tại thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  3. Tàng Thị S1, sinh năm 1962, trú tại thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  4. Tàng Văn N1, sinh năm 1971, trú tại thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  5. Lục Văn B1, sinh năm 1981, trú tại thôn Q, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Tang vật thu giữ tại chiếu bạc gồm: Số tiền 340.000 đồng; 01 bát sứ màu trắng; 01 đĩa sứ màu trắng; 04 quân vị được làm bằng tre, một mặt tô màu đen, một mặt nguyên dạng; 01 bảng vị được làm từ bìa cát tông; 01 chiếc bao tơ dứa màu trắng. Ngoài ra các đối tượng tự giao nộp 04 chiếc điện thoại di động các loại gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại A15, mặt lưng màu xanh đen do Đàm Văn T giao nộp; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại bàn phím cơ, màu xanh do Tàng Văn N1 giao nộp; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, loại Star 4, màu đen do Tàng Thị S1 giao nộp; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại A16, màu xanh do Lục Văn B1 giao nộp.

Về hình thức đánh bạc: Các đối tượng sử dụng 01 chiếc bát sứ màu trắng; 01 chiếc đĩa sứ màu trắng và lấy 04 quân vị được làm bằng mảnh tre, một mặt được tô màu đen, một mặt nguyên dạng, cùng nhau ngồi vòng quanh chiếc bao tơ dứa màu trắng để đánh bạc. Quy định bên tay phải người xóc cái là bên chẵn, bên tay trái người xóc cái là bên lẻ, những người chơi ngồi 2 bên phải, bên trái của người xóc cái. Ngô Văn P là người xóc cái, P cho 04 quân cái vào chiếc đĩa xứ rồi úp chiếc bát xứ lên, hai tay cầm cả đĩa, bát xóc đều lên rồi đặt xuống giữa chiếu bạc trước mặt mọi người, lúc này những người chơi đặt tiền xuống cửa bên chẵn hay bên lẻ là tùy theo sự phán đoán của mỗi ván chơi. Khi những người chơi đặt tiền xong, ổn định, thì người xóc cái mở bát ra, nếu quân vị trong đĩa thể hiện 4 quân đều cùng mặt nguyên dạng, hoặc cùng mặt màu đen hoặc 02 quân mặt nguyên dạng 02 quân mặt màu đen (gọi là chẵn) thì người chơi đặt tiền bên chẵn thắng bạc. Nếu 4 quân vị thể hiện 01 quân mặt nguyên dạng 03 quân mặt màu đen hoặc 03 quân mặt đen 01 quân mặt nguyên dạng (gọi là lẻ) thì người đặt tiền bên lẻ thắng bạc. Tỷ lệ 1/1, nếu ván bạc là chẵn thì người cầm cái lấy tiền của những người đánh bạc bên lẻ trả cho người đánh bạc bên chẵn và ngược lại, nếu ván nào thừa tiền thì người cầm cái sẽ được hưởng, thiếu thì bỏ tiền của mình ra trả cho người thắng. Mỗi ván những người chơi đặt cược thấp nhất từ 10.000 đồng, nhiều hơn tuy người chơi đặt cược. Các đối tượng đánh bạc đến 15 giờ 30 phút cùng ngày, lúc này P đứng dậy đi vệ sinh thì bị Tổ công tác của Công an xã P, huyện L, phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật liên quan. Ngô Văn P đi về nhà, đến ngày 26/02/2024 P đến Công an xã P làm việc.

Ngày 26/02/2024, Công an xã P chuyển hồ sơ, tài liệu đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L để giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 04/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành xác định hiện trường, nơi các đối tượng đánh bạc.

Quá trình điều tra các đối tượng khai nhận về hành vi phạm tội, số tiền mang theo và sử dụng vào mục đích đánh bạc, cụ thể như sau:

Đàm Văn T khai nhận: Khi tham gia đánh bạc T có 100.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc với mọi người đến khi bị bắt quả tang T không rõ đang thắng hay thua, T để hết tiền xuống chiếu bạc, đã bị Công an lập biên bản thu giữ.

Ngô Văn P khai: Bản thân sử dụng số tiền 30.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt quả tang không rõ thắng hay thua, P để hết tiền xuống chiếu bạc, đã bị Công an lập biên bản thu giữ.

Tàng Văn N1 khai: Khi tham gia đánh bạc Nhất có 40.000 đồng sử dụng để đánh bạc, khi bị bắt quả tang N1 không rõ thắng hay thua, N1 để hết tiền xuống chiếu bạc.

Tàng Thị D khai: Có số tiền 40.000 đồng để đánh bạc Khi bị bắt quả tang, D không rõ thắng hay thua, D để hết tiền xuống chiếu bạc.

Tàng Thị S1 khai: Mang theo số tiền 100.000 đồng để đánh bạc, Khi bị bắt quả tang, S1 không rõ thắng hay thua, S1 để hết tiền xuống chiếu bạc.

Đối với anh Lục Văn B1 có mặt tại nơi đánh bạc, nhưng không tham gia đánh bạc; ông Trương Ngọc B là chủ vườn táo, nơi các đối tượng đánh bạc, nhưng không biết các đối tượng đánh bạc tại vườn của gia đình và cũng không giúp sức gì, nên không co căn cứ xử lý đối với anh B1 và ông B.

Đối với hành vi của Ngô Văn P, Tàng Thị S1, Tàng Thị D, Tàng Văn N1 tham gia đánh bạc với tổng số tiền các đối tượng đánh bạc là 340.000 đồng. Bản thân P, S1, D, N1 đều chưa có tiền án, tiền sự về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Ngô Văn P, Tàng Thị S1, Tàng Thị D, Tàng Văn N1.

Về vật chứng của vụ án:

Ngày 15/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định xử lý vật chứng số 436, trả lại các tài sản không liên quan đến việc đánh bạc cho các chủ sở hữu gồm: Trả lại Tàng Văn N1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại bàn phím cơ, màu xanh; trả Tàng Thị S1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, loại Star 4, màu đen; trả Lục Văn B1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại A16, màu xanh.

Các vật chứng còn lại gồm: Số tiền 340.000 đồng; 01 bát sứ màu trắng; 01 đĩa sứ màu trắng; 04 quân vị được làm bằng tre, một mặt được tô màu đen, một mặt nguyên dạng; 01 bảng vị được làm từ bìa cát tông; 01 chiếc bao tơ dứa màu trắng được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn để giải quyết theo quy định.

Tại phiên toà hôm nay bị cáo Đàm Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân bị cáo, đề nghị Tòa án: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt: Bị cáo Đàm Văn T từ 07 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 đến 18 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Đánh bạc”. Ngoài ra còn đề xuất về xử lý vật chứng, án phí.

Bị cáo trình bày lời nói sau cùng, cho bị cáo hưởng mức hình phạt thấp nhất và cho hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của các đương sự vắng mặt, bị cáo không ý kiến gì về lời khai các đương sự vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt họ.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận:

Đàm Văn T là người đã có 01 tiền sự về hành vi Đánh bạc. Hồi 15 giờ 30 phút ngày 24/02/2024, tại vườn táo của gia đình ông Trương Ngọc B, sinh năm 1967, trú tại thôn T, xã P, huyện L, T đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh xóc đĩa được thua bằng tiền cùng với các đối tượng thì bị Công an xã P, huyện L phát hiện, lập biên bản vụ việc. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc là 340.000 đồng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng được pháp luật bảo vệ. Vì vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn và bản Luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tại phiên tòa đã truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo đã có thời gian đi nghĩa vụ quân sự, phục vụ trong quân đội Nhân dân. Vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất nguy hiểm hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã gây mất trật tự trị an tại địa phương cần phải xử lý nghiêm theo quy định pháp luật. Tuy nhiên bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo và không gây nguy hiểm cho xã hội nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ để giáo dục riêng và phòng ngừa chung và theo đúng quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/ 2018; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 23/3/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/ 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Xét mức hình phạt đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên có căn cứ chấp nhận.Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung bằng hình phạt tiền cho bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: đối với số tiền 340.000 đồng đánh bạc cần tịch thu nộp Ngân sách nhà nước; Đối với 01 chiếc điện thoại OPPO, loại A15, mặt lưng màu xanh – đen của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo. Còn vật chứng là công vụ phạm tội không có giá trị lớn cần tịch thu tiêu hủy 01 bát sứ màu trắng; 01 đĩa sứ màu trắng; 04 quân vị được làm bằng tre, một mặt được tô màu đen, một mặt nguyên dạng; 01 bảng vị được làm từ bìa cát tông; 01 chiếc bao tơ dứa màu trắng.

Các vấn đề khác:

Đối với anh Lục Văn B1 có mặt tại nơi đánh bạc, nhưng không tham gia đánh bạc; ông Trương Ngọc B là chủ vườn táo, nơi các đối tượng đánh bạc, nhưng không biết các đối tượng đánh bạc tại vườn của gia đình và cũng không giúp sức gì, nên không xử lý đối với anh B1 và ông B là có căn cứ.

Đối với hành vi của Ngô Văn P, Tàng Thị S1, Tàng Thị D, Tàng Văn N1 tham gia đánh bạc với tổng số tiền các đối tượng đánh bạc là 340.000 đồng. Bản thân P, S1, D, N1 đều chưa có tiền án, tiền sự về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Ngô Văn P, Tàng Thị S1, Tàng Thị D, Tàng Văn Nhất là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo do là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt: Bị cáo Đàm Văn T 07 (bẩy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 02 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Đánh bạc".

Giao bị cáo Đàm Văn T cho UBND xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • - Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 340.000 đồng;
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 bát sứ màu trắng; 01 đĩa sứ màu trắng; 04 quân vị được làm bằng tre, một mặt được tô màu đen, một mặt nguyên dạng; 01 bảng vị được làm từ bìa cát tông; 01 chiếc bao tơ dứa màu trắng.
  • - Trả lại cho bị cáo Đàm Văn T 01 chiếc điện thoại OPPO, loại A15, mặt lưng màu xanh – đen.
  1. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 12 của Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản bản.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - CQCSĐTCA huyện Lục Ngạn;
  • - UBND xã Phú Nhuận;
  • - Sở tư pháp
  • - Bị cáo, đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 74/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger