Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN LẠC

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2024/HS-ST

Ngày: 26/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC - TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Bích và ông Trần Văn Học

Thư ký phiên toà: Bà Cao Thị Hải Yến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Ông Lưu Hải Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại Nhà văn hóa UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2024/HSST ngày 29 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/HSST-QĐ ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn H, sinh ngày 19 tháng 10 năm 1982; nơi sinh và cư trú: Thôn H, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn N, con bà Nguyễn Thị T; Có vợ là Nguyễn Thị H1 và có 03 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không;
  2. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y. Có mặt.

  3. Hoàng Thị H2, sinh ngày 19 tháng 5 năm 2004; nơi sinh và cư trú: Bản Tạng Đ, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Con ông Hoàng Văn N1 (đã chết), con bà Lò Thị N2; Chồng, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh V. Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Thị H2: Ông Lê Văn D là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh V. Có mặt

* Người làm chứng

- Anh Nguyễn Đức Đ1, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt

- Anh Đường Vinh T1, sinh năm 2003; địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 ngày 11/6/2024, tổ công tác Công an huyện Y kiểm tra cơ sở kinh doanh Karaoke thuộc thôn H, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc do Nguyễn Văn H làm chủ. Quá trình kiểm tra phát hiện tại phòng hát số 2 (trong cùng theo hướng từ cửa vào) có 05 người gồm 03 khách hát là Nguyễn Đức Đ1; Đường V, và một người tự khai là Lê Văn Đ2, SN: 2000, trú tại thôn C, xã Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc là khách hát và 02 nhân viên quán hát là Hoàng Thị H2, và Ly Thị R. Quá trình kiểm tra thực tế phát hiện thu giữ:

  • Thu giữ tại mặt bàn trong phòng hát số 2 (trong cùng theo hướng từ cửa vào) ½ viên nén màu trắng đục, Lê Văn Đ2 khai nhận là ma túy "kẹo" của Đ2 vừa mua của Hoàng Thị H2. Tiền hành niêm phong trong phong bì thư ký hiệu A1.
  • Thu giữ tại mặt tủ để giày giáp phòng ngủ của Nguyễn Văn H 01 túi nilon màu đen bên trong dựng chất bột màu trắng. Tiến hành niêm phong trong phong bì thư ký hiệu A2.
  • Thu giữ tại vị trí lỗ ống dầm sắt sát phòng ngủ của Nguyễn Văn H: 01 túi nilon màu trắng đựng 08 viên nén màu trắng đục và 03 túi nilon màu đen bên trong đều đựng chất bột màu trắng đục. Tiến hành niêm phong trong phong bì thư ký
  • Thu giữ tại mặt tủ trong phòng ngủ của Nguyễn Văn H 01 túi nilon đựng chất bột màu trắng và 80 túi nilon màu đen chưa qua sử dụng. Tiến hành niêm phong trong phong bì thư ký hiệu A4. (BL 09 - 11)

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn H và Nguyễn Thị H3 khai nhận: Nguyễn Văn H kinh doanh dịch vụ Karaoke tại nhà ở của H. Ngày 20/5/2024, qua bạn bè giới thiệu (chưa xác định được người giới thiệu), Nguyễn Văn H đến khu vực ngã tư Đ thuộc xã Đ, huyện V, Vĩnh Phúc tìm gặp và mua của một người phụ nữ (chưa xác định được lai lịch) 14 viên ma túy "kẹo" (giá 350.000đ/01 viên ma túy K) và 01 túi ma túy "ke" (600.000đ/01 túi ma túy ke) với tổng giá tiền là 5.500.000đ (Năm triệu năm trăm nghìn đồng) nhằm mục đích bán kiếm lời. Sau khi mua được ma túy, H đem số ma túy "kẹo" và "ke" trên về cất giấu tại quán Karaoke của H. Quá trình cất giấu có 03 viên ma túy "kẹo" bị dập vỡ nên H có để 03 viên ma túy kẹo bị dập vỡ vào 03 túi nilon để bảo quản cùng số ma túy còn lại. Khoảng 22 giờ 00 ngày 11/6/2024, khi H đang quản lý quán Karaoke thì có 03 khách là Nguyễn Đức Đ1, Đường V; Lê Văn Đ2 vào quán để hát. H sắp xếp cho 03 người này vào phòng thứ 2 trong cùng của quán (hướng từ cửa vào trong). Sau khi vào phòng hát, 03 khách trên gọi 02 nhân viên của quán vào phục vụ. Nguyễn Văn H sắp xếp cho Hoàng Thị H2 và Ly Thị R vào phòng để phục vụ. Quá trình hát karaoke, Lê Văn Đ2 hỏi mua của Hoàng Thị H2 03 viên ma túy "Kẹo". Do bản thân không có ma túy và trước đó đã được H nói rằng nếu có khách mua ma túy “Kẹo” và “Ke” thì bảo H để bán ma túy vì H có sẵn các loại ma túy này, nên Hoàng Thị H2 một mình đi ra phòng ngủ giáp cửa ra vào của quán gặp H và bảo H: "Khách gọi 03 viên ma túy kẹo". H hiểu ý nên lấy 03 viên ma túy "kẹo" từ số ma túy mua được nêu trên đưa cho H2 và bảo H2 thu của khách số tiền 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng), ngoài ra H bảo H2 yêu cầu khách chuyển thẳng tiền vào số tài khoản của H2. H2 đồng ý rồi cầm 03 viên ma túy "Kẹo" H đưa quay lại phòng hát giao cho Lê Văn Đ2 và nói giá bán 03 viên ma túy "kẹo" là 1.200.000₫ (400.000đ/01 viên). Lê Văn Đ2 nhận số ma túy H2 bán cho rồi sử dụng tài khoản ngân hàng S, số tài khoản 700028552577 của Đ2 chuyển số tiền 1.200.000₫ vào tài khoản ngân hàng V, số tài khoản 106600666117 của Hoàng Thị H2. Sau đó, Lê Văn Đ2 một mình đem 03 viên ma túy "kẹo" vừa mua được đến nhà vệ sinh của quản hát sử dụng hết 2,5 viên ma túy "kẹo" rồi quay lại phòng hát tiếp tục hát, uống bia. Khoảng 22 giờ 30 cùng ngày, tổ công tác Công an huyện Y đến kiểm tra cơ sở Karaoke của Nguyễn Văn H4 như đã nêu trên, Cơ quan Công an lập biên bản, thu giữ và niêm phong tang vật theo quy định của pháp luật.

Tại kết luận giám định số 1765/KLGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 của Phòng K2 Công an tỉnh V kết luận:

  • ½ viên nén màu trắng đục của mẫu ký hiệu Al gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0602g (không phảy không sáu không hai gam, không kể bao bì) loại MDMA.
  • Chất bột màu trắng của mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,5707g (không phảy năm bảy không bảy gam, không kể bao bì) loại Ketamnie.
  • 08 (tám) viên nén màu trắng đục có trong mẫu ký hiệu A3 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 3,0104g (ba phảy không một không bốn gam, không kể bao bì) loại MDMA.
  • Chất bột màu trắng đục có tổng mẫu ký hiệu A3 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,5847g (không phảy không sáu không hai gam, không kể bao bì) loại MDMA.
  • Chất bột màu trắng đục có tổng mẫu ký hiệu A4 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0816g (không phảy không tám một sáu gam, không kể bao bì) loại Ketamine.

Như vậy tổng số ma túy loại MDMA và Ketamine thu giữ được lần lượt là 3,6553g và 0,6235g.

Quá trình điều tra, Hoàng Thị H2 đã tự nguyện giao nộp số tiền 1.200.000₫ là tiền mà Lê Văn Đ2 sử dụng để mua ma túy của H2 cho Cơ quan điều tra

Tại Cáo trạng số 73/CT-VKSYL, ngày 12/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc truy tố các bị cáo Nguyễn Văn H, Hoàng Thị H2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H, Hoàng Thị H2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 09 tháng tù, xử phạt bị cáo Hoàng Thị H2 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu, tiêu hủy bao gói niêm phong mẫu vật ký hiệu “MẪU TRẢ 1623" gồm A1 = 0,0339g; A2=0,4997g; A3=2,971g mẫu viên nén + 0,5392g mẫu chất bột màu trắng đục; A4 = 0,0665g còn lại sau giám định; 03 túi nilong đen đựng các chất ma túy niêm phong trong phong bì thư ký hiệu Al và 80 túi nilon màu đen khác; Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 1.200.000₫ do Hoàng Thị H2 tự nguyện giao nộp.

Về án phí: Buộc bị cáo H phải chịu 200.000đ; bị cáo H2 được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo H2 xác định cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do bị cáo là người dân tộc thiểu số, hoàn cảnh khó khăn nên nhận thức pháp luật còn hạn chế dẫn đến tham gia bán ma túy cho H, bản thân bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi của mình.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

[2]. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để xác định:

Ngày 20/5/2024 Nguyễn Văn H đã mua một số lượng ma túy của người phụ nữ (không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) gồm 14 viên ma túy "kẹo" (giá 350.000đ/01 viên ma túy K) và 01 túi ma túy "ke" (600.000đ/01 túi ma túy ke) với tổng giá tiền là 5.500.000đ (Năm triệu năm trăm nghìn đồng) mục đích để bán kiếm lời. Khoảng 22 giờ 30 phút ngày, 11/6/2024, tại cơ sở kinh doanh K3 thuộc thôn H, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc do H làm chủ, tổ công tác Công an huyện Y phát hiện Hoàng Thị H2 là nhân viên quán hát đã có hành vi bán ma túy cho khách tự khai tên là Lê Văn Đ2, 03 (ba) viên ma túy “kẹo” nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Quá trình bắt quả tang Đ2 đã sử dụng hết 2,5 viên kẹo, còn ½ viên kẹo có trọng lượng 0,0602g là ma túy loại MDMA. Quá trình kiểm tra tại quán, Cơ quan Công an thu giữ thêm: Thu giữ tại mặt tủ để giày giáp phòng ngủ của Nguyễn Văn H 01 túi nilon màu đen bên trong đựng 0,5707 gam ma túy loại Ketamine; thu giữ tại vị trí lỗ ống dầm sắt sát phòng ngủ của Nguyễn Văn H4 3,5951 gam ma túy loại MDMA; thu giữ tại mặt tủ trong phòng ngủ của Nguyễn Văn H 01 túi nilon đựng 0,0816 gam ma túy loại Ketamine và 80 túi nilon màu đen chưa qua sử dụng.

Theo kết luận giám định, tổng số ma túy loại MDMA và Ketamine thu giữ được lần lượt là 3,6553g và 0,6235g.

Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì tổng tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của cả hai chất MDMA và Ketamine là 73,106% + 3,117% = 76,223% (dưới 100%). Do đó, hành vi của Nguyễn Văn H và Hoàng Thị H2 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, nội dung điều luật quy định: “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây nguy hiểm cho xã hội, không những đã tiếp tay cho bọn tội phạm để đầu độc các thanh thiếu niên bằng chất ma túy mà còn gây khó khăn cho nhiều gia đình có con em bị nghiện, là nguyên nhân làm phát sinh và gia tăng các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Các bị cáo là người đã trưởng thành, có sức khỏe, có điều kiện làm ăn chân chính để nuôi sống bản thân và gia đình nhưng vì bản tính lười lao động, so hám lời, các bị cáo đã thực hiện hành vi bán ma túy cho người khác bất chấp hậu quả xảy ra. Do vậy, cần có một mức án tương xứng với hành vi của các bị cáo để giáo dục, cải tạo các bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trước khi phạm tội, các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự quá trình điều tra đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình. Nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đều không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Do đó có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, thể hiện sự khoan hồng và nhân đạo của pháp luật, tạo cơ hội cho các bị cáo cải tạo, sửa đổi bản thân để trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong vụ án này, Nguyễn Văn H là chủ quán hát K1 đã chủ động đi mua ma túy với mục đích để bán kiếm lời cho bản thân; giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ ngay từ đầu nên bị cáo H phải chịu mức án cao hơn. Bị cáo Hoàng Thị H2 sau khi được H nói về việc có ma túy bán đã tích cực giúp sức cho H thực hiện việc mua bán ma túy, nhưng xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc diện hộ nghèo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo tuổi còn trẻ, nhận thức pháp luật có phần hạn chế nên có thể xem xét khi quyết định hình phạt.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo H và bị cáo H2 đều làm nghề tự do, không có thu nhập ổn định, tại địa phương các bị cáo không có tài sản gì, bị cáo H2 thuộc hộ nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6]. Về vật chứng: Bao gói niêm phong mẫu vật ký hiệu “MẪU TRẢ 1623" gồm A1 = 0,0339g; A2=0,4997g; A3=2,971g mẫu viên nén + 0,5392g mẫu chất bột màu trắng đục; A4 = 0,0665g còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; số tiền 1.200.000₫ do Hoàng Thị H2 tự nguyện giao nộp, quá trình điều tra xác định là tiền do H2 mua bán trái phép chất ma túy mà có nên tịch thu sung quỹ Nhà nước; 03 túi nilong đen đựng các chất ma túy niêm phong trong phong bì thư ký hiệu A1 và 80 túi nilon màu đen khác, Nguyễn Văn H khai nhận mục đích để đựng ma túy, do không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[7]. Về các vấn đề khác:

Đối với 01 nữ giới chưa rõ lai lịch là người bán ma túy cho H, tại Cơ quan điều tra, H khai nhận đây là lần đầu tiên H mua ma túy của người này, bản thân H cũng không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, không nhớ rõ đặc điểm cụ thể của người này, chỉ biết người này khoảng 45 tuổi, vì vậy Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh và không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với người khai tên Lê Văn Đ2 là người trực tiếp mua 03 (ba) viên ma túy “kẹo” của Hoàng Thị H2 nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Quá trình bắt quả tang Đ2 đã sử dụng hết 2,5 viên kẹo, còn ½ viên kẹo có trọng lượng 0,0602g là ma túy loại MDMA (chưa đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự). Cơ quan điều tra tiền hành xác minh tại Công an xã Đ xác định tại địa bàn thôn C, xã Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc không có ai tên Lê Văn Đ2, SN: 2000. Đối với tài khoản ngân hàng S, số tài khoản 700028552577 là tài khoản ngân hàng đã chuyển số tiền 1.200.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của H2 để mua ma túy. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại ngân hàng S xác định tài khoản ngân hàng nêu trên có chủ đăng ký là Nguyễn Xuân Đ3. Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập Nguyễn Xuân Đ3 để làm việc nhưng Đông vắng mặt khỏi địa phương, vì vậy cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ xử lý sau.

Đối với Nguyễn Đức Đ1, Đường V và Ly Thị R quá trình trong phòng hát không tham gia vào việc mua bán ma túy cũng như không biết việc Lê Văn Đ2 mua bán và sử dụng ma túy như thế nào nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

[8]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Do bị cáo Hoàng Thị H2 là người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc hộ nghèo được địa phương xác nhận nên được miễn án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H, Hoàng Thị H2 phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 12/6/2024.

Xử phạt bị cáo Hoàng Thị H2 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 12/6/2024.

Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • Tịch thu, tiêu hủy bao gói niêm phong mẫu vật ký hiệu “MẪU TRẢ 1623" gồm A1 = 0,0339g; A2=0,4997g; A3=2,971g mẫu viên nén + 0,5392g mẫu chất bột màu trắng đục; A4 = 0,0665g còn lại sau giám định; 03 túi nilong đen đựng các chất ma túy niêm phong trong phong bì thư ký hiệu A1 và 80 túi nilon màu đen khác
  • Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 1.200.000₫ do Hoàng Thị H2 tự nguyện giao nộp;

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/9/2024 giữa Công an huyện Y và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lạc).

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Hoàng Thị H2 được miễn tiền án phí hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND huyện Yên Lạc;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Yên Lạc;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Lạc;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Lạc;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự;
  • - Ủy ban nhân dân xã Đồng Văn;
  • - Ủy ban nhân dân xã Thân Thuộc, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Lưu HS, bộ phận theo dõi THAHS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Duy Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC - TỈNH VĨNH PHÚC về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 74/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC - TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H cùng đồng phạm mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger