Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2023/HNGĐ-ST

Ngày 25 tháng 8 năm 2023

“V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Trọng Điền và ông Nguyễn Thanh Phương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Quốc Đạt, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 201/2023/TLST-HNGĐ ngày 05/6/2023 về “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2023/QĐXXST-HN ngày 25/7/2023 giữa:

- Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị Bé N, sinh năm 1982, địa chỉ: số F đường V, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt);

- Bị đơn: Ông La Minh T, sinh năm 1984, địa chỉ: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trịnh Thị Bé N trình bày:

Bà và ông T tự tìm hiểu yêu thương và chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố C, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 23, ngày 28/02/2022. Thời gian đầu vợ, chồng chung sống hạnh phúc, về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vả, nguyên nhân do ông Thông thường x dùng lời lẽ thô tục xúc phạm bà. Mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm không còn nên bà yêu cầu ly hôn với ông T.

Về con chung, bà N, ông T có 01 con chung tên La Trịnh Ngọc D, sinh ngày 15/4/2023, bà N yêu cầu được nuôi dạy con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho ông T nhưng ông T vắng mặt không có lý do.

Kết quả xác minh tại Khóm V, phường N, thành phố C: Ông T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang. Hiện ông T đang đi làm ăn xa những vẫn thường xuyên về thăm gia đình. Nguyên nhân mâu thuẫn thế nào ban khóm không rõ do không có báo với chính quyền địa phương.

Ông La Thành T1 là cha ruột của ông La Minh T, có nơi cư trú cùng với ông T cho biết: Ông T hiện nay đi làm ăn tại thành phố Hồ Chí Minh nhưng thỉnh thoảng có về gia đình. Việc bà N ly hôn thì ông T có biết, ông nhận các văn bản của Tòa án và điện thoại cho ông biết. Vợ chồng Năm T2 mâu thuẫn rất nhiều lần, gia đình có hàn gắn nhưng không được, hai người không chủ động hàn gắn tình cảm với nhau.

Tòa án tiến hành mở phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải giữa các đương sự, tuy nhiên ông T2 vắng mặt không có lý do nên không tiến hành hòa giải được.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về thủ tục: Thẩm phán xác định thẩm quyền; thụ lý quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách tham gia tổ tụng của các đương sự; thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ đúng theo quy định tại các Điều 48, 195, 196, 198 và Điều 203 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (viết tắt BLTTDS). Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng quy định. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do; đề nghị HĐXX căn cứ Điều 227, 228 BLTTDS tiến hành xét xử vụ án.

Về việc giải quyết vụ án: Về hôn nhân, đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà N được ly hôn với ông T2. Về con chung, đề nghị giao cho bà N tiếp tục nuôi dạy; ghi nhận sự tự nguyện của bà N về việc không yêu cầu ông T2 cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung không đặt ra xem xét, giải quyết.

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và đình. Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn. Bị đơn cư trú trên địa bàn thành phố C. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 BLTTDS.

Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân, nguyên đơn và bị đơn kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N nên được xem là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.

Xét, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, thế nhưng ông T2 đã không thường xuyên sinh sống ở nhà, không quan tâm đến vợ, con; ông T2, bà N không chủ động hàn gắn tình cảm. Từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân của bà N và ông T2 là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà N khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông T2 là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 như quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên.

[4] Về con chung: Bà N và ông T2 có 01 con chung tên La Trịnh Ngọc D, sinh ngày 15/4/2023, hiện cháu đang sống chung với bà N. Bà N yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng. Xét việc giao con chung cho bà N nuôi dạy là phù hợp quy định pháp luật tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận; bà N không yêu cầu ông T2 cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập xem xét.

Bà N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông T2 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà N không yêu nên không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí hôn nhân sơ thẩm, nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Bị đơn không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trịnh Thị Bé N.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trịnh Thị Bé N được ly hôn ông La Minh T.
  2. Giấy chứng nhận kết hôn số 23, ngày 28/02/2022 của Ủy ban nhân dân phường N, thành phố C, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

  3. Về con chung: Bà Trịnh Thị Bé N được tiếp tục nuôi dạy con chung La Trịnh Ngọc D, sinh ngày 15/4/2023 cho đến khi thành niên và có khả năng lao động. Ông La Minh T không cấp dưỡng nuôi con.
  4. Bà N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

  5. Về tài sản chung, nợ chung: Bà N không yêu cầu, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  6. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:
  7. Bà Trịnh Thị Bé N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0003312 ngày 05 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc; bà N đã nộp đủ án phí.

    Ông La Minh T không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

  8. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
  9. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - VKSND TP. Châu Đốc (2);
  • - Chi cục THADS TP.Châu Đốc (1);
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Núi Sam (1);
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2023/HNGĐ-ST ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn

  • Số bản án: 74/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger