TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 74/2024/DS- ST Ngày: 19 và 25/7/2024 V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thạch Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Bé
- Bà Nguyễn Thị Tuyết Lệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thanh Quyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoàng Danh – Kiểm sát viên
Trong ngày 19 và 25 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 196/2023/TLST-DS ngày 25 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng góp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2024/QĐXX-ST ngày 27 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1975; Địa chỉ: ấp C, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Bà Đinh Thị Hồng X, sinh năm 1986; Địa chỉ: ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh
Chổ ở hiện nay: số 78/21/b17 T, số A, quận F, thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
Người đại diện cho chị Đinh Thị Hồng X: Ông Phạm Minh T1, sinh năm 1965; Địa chỉ: Số B N, phường C, quận G, thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ liên lạc: 125/7/5 B, phường B, quận B, thành Phố Hồ Chí Minh (theo văn bản ủy quyền ngày 03/7/2024) (vắng mặt)
Ông Nguyễn Minh T2, sinh năm 1984; Địa chỉ: ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 13 tháng 11 năm 2023 của chị Nguyễn Thị Thanh T, quá trình tố tụng chị Nguyễn Thị Thanh T trình bày:
Ngày 15/3/2019 chị có làm đầu thảo hụi loại hụi 5.000.000 đồng khui theo vụ lúa có 15 phần trong đó có vợ chồng Đinh Thị Hồng X và anh Nguyễn Minh T2 có tham gia 01 phần tên trong dây hụi là Minh T2, việc tham gia góp hụi chị không có làm văn bản nhưng chị có lập danh sách hụi và có giao cho các thành viên tham gia góp hụi để theo dõi. Các thành viên đã bỏ thăm hốt hụi như sau:
- Lần 1: Hụi viên 3 Khởi bỏ thăm số tiền 2.000.000 đồng.
- Lần 2: Hụi viên Loan Liêm bỏ thăm 1.500.000 đồng
- Lần 3: Hụi viên Đinh Thị Hồng X và Nguyễn Minh T2 bỏ thăm 1.700.000 đồng nên hột được số tiền 47.100.000 đồng chị đã giao tiền hụi cho chị Đinh Thị Hồng X và anh Nguyễn Minh T2, việc giao tiền hụi không có làm biên nhận.
- Lần 4: Hụi viên Hoàng A bỏ thăm 2.200.000 đồng chị X và anh T2 đóng hụi chết cho chị 5.000.000 đồng
- Lần 5: Hụi viên Anh 3 Minh bỏ thăm 2.050.000 đồng chị X và anh T2 đóng hụi chết cho chị 5.000.000 đồng
- Lần 6: Hụi viên 5 Quan bỏ thăm 1.800. 000 đồng chị X và anh T2 đóng hụi chết cho chị 5.000.000 đồng
- Lần 7: Hụi viên Điền Đinh bỏ thăm 1.300.000 đồng chị X và anh T2 đóng hụi chết cho chị 5.000.000 đồng
- Lần 8: Hụi viên 5 Khởi bỏ thăm 1.600. 000 đồng chị X và anh T2 đóng hụi chết cho chị 5.000.000 đồng
- Lần 9: Hụi viên Xui Hiền bỏ thăm 1.500.000 đồng chị X và anh T2 đóng hụi chết cho chị 5.000.000 đồng
- Lần 10: Hụi viên Anh 3 Hớn bỏ thăm 1.200.000 đồng chị X và anh T2 không đóng hụi chết nên chị đã choàng hụi thay cho chị X và anh T2 5.000.000 đồng
- Lần 11: Hụi viên T3 bỏ thăm 1.000.000 đồng chị X và anh T2 không đóng hụi chết nên chị đã choàng hụi thay cho chị X và anh T2 5.000.000 đồng
- Lần 12: Hụi viên chị Sáu V bỏ thăm 1.000.000 đồng chị X và anh T2 không đóng hụi chết nên chị đã choàng hụi thay cho chị X và anh T2 5.000.000 đồng
- Lần 13: Hụi viên 7 Xuân bỏ thăm 1.200.000 đồng chị X và anh T2 không đóng hụi chết nên chị đã choàng hụi thay cho chị X và anh T2 5.000.000 đồng
- Lần 14: Hụi viên Anh 3 Hớn bỏ thăm 2.000.000 đồng chị X và anh T2 không đóng hụi chết nên chị đã choàng hụi thay cho chị X và anh T2 5.000.000 đồng
- Lần 15: Hụi viên T3 hốt cuối chị X và anh T2 không đóng hụi chết nên chị đã choàng hụi thay cho chị X và anh T2 5.000.000 đồng
Tổng cộng chị đã choàng hụi thay cho chị X và anh T2 tổng 06 lần với số tiền bằng 30.000.000 đồng. Nay chị yêu cầu chị X và anh T2 phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền bằng 30.000.000 đồng, chị không yêu cầu tính lãi.
Tại bản tự khai ngày 08/3/2024 bị đơn anh Nguyễn Minh T2 trình bày: Vợ chồng anh là Đinh Thị Hồng X và Nguyễn Minh T2 có tham gia góp hụi do chị Nguyễn Thị Thanh T làm đầu thảo loại hụi 5.000.000 đồng khui theo vụ lúa, nhưng mọi giao dịch góp hụi đều do vợ anh tên là Đinh Thị Hồng X giao dịch, sau khi hốt hụi thì chị X vẫn đóng tiền hụi chết đầy đủ cho chị T, nhưng từ khi anh với chị X mẫu thuẫn với nhau thì không đóng hụi chết cho chị T nữa. Nay anh đồng ý hoàn trả cho chị T bằng 15.000.000 đồng, số tiền còn lại là 15.000.000 đồng thì chị X phải có trách nhiệm hoàn trả cho chị T.
Tại bản tự khai ngày 17/01/2024 và thông báo ngày 18/5/2024 của bị đơn chị Đinh Thị Hồng X trình bày: Chị khẳng định dây hụi ngày 15/3/2019 chị không có tham gia nên chị không liên quan gì đối với số tiền 30.000.000 đồng mà chị Nguyễn Thị Thanh T cho rằng có choàng hụi thay cho chị, chị yêu cầu chị T xuất trình chứng cứ có chữ ký của chị khi tham gia dây hụi, toàn bộ sự việc mà chị T kiện chị là hoàn toàn không đúng sự thật, chị xác định chị T đã vu khống chị và khởi kiện sai sự thật. Chị đề nghị Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự nhằm bảo đảm quyền lợi cho chị.
Ý kiến trình bày của Kiểm sát viên:
- Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng nhiệm vụ, quyền hạn và tuân thủ đúng trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự tham gia tố tụng trong vụ án đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 468 và Điều 471 bộ luật dân sự;
Áp dụng nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh T. Buộc chị Đinh Thị Hồng X và anh Nguyễn Minh T2 có trách nhiệm hoàn trả số tiền nợ hụi cho chị T bằng 30.000.000 đồng.
Về mức lãi suất: Do chị Nguyễn Thị Thanh T không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.
Các tài liệu chứng cứ tình tiết của vụ án:
- - Tài liệu do nguyên đơn cung cấp: Danh sách hụi (phản pho to có đối chiếu)
- - Tài liệu chứng cứ do bị đơn cung cấp: Không có
- - Tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập được: Biên bản ghi lời khai của một số thành viên tham gia góp hụi
Những tình tiết các bên thống nhất: Bị đơn anh Nguyễn Minh T2 thừa nhận vợ chồng có còn nợ tiền hụi của chị T bằng 30.000.000 đồng
Những tình tiết các bên không thống nhất: chị Đinh Thị Hồng X không thừa nhận có tham gia góp hụi và không liên quan gì .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về quan hệ tranh chấp: Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng góp hụi bị đơn có nơi cư trú tại địa bàn huyện T nên căn cứ vào khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh
[2]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T và bị đơn anh Nguyễn Minh T2 có đơn xin xét xử vắng mặt, đại diện cho bị đơn chị Đinh Thị Hồng X là ông Phạm Minh T1 vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt người đại cho nguyên đơn, bị đơn anh Nguyễn Minh T2 và đại diện cho bị đơn chị Đinh Thị Hồng X.
[3]. Về nội dung vụ án: Quá trình tố tụng nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu chị Đinh Thị Hồng X và anh Nguyễn Minh T2 phải có nghĩa vụ hoàn trả số tiền hụi mà chị T đã choàng hụi thay cho chị X và anh T2 từ lần khui thứ 11 đến lần khui thứ 15 là 06 lần bằng 30.000.000 đồng của dây hụi ngày 15/3/2019 loại hụi 5.000.000 đồng khui theo vụ lúa có 15 phần do chị Nguyễn Thị Thanh T làm đầu thảo. Quá trình tố tụng anh Nguyễn Minh T2 là chồng của chị Định Thị Hồng X1 thừa nhận vợ chồng có tham gia góp hụi do chị T làm đầu thảo loại hụi 5.000.000 đồng khui theo vụ lúa và hiện còn nợ tiền hụi của chị T 06 lần bằng 30.000.000 đồng, riêng bị đơn chị Đinh Thị Hồng X không thừa nhận có tham gia góp hụi do chị T làm đầu thảo và hoàn toàn không liên quan gì đến việc chị T khởi kiện.
Quá trình tố tụng Tòa án có ban hành quyết định số 04/2024/QĐ-CCTLCC ngày 05/02/2024 yêu cầu chị Nguyễn Thị Thanh T phải cung cấp chứng cứ bản chính sổ hụi loại hụi 5.000.000 đồng khui theo vụ lúa khui ngày 15/3/2019 có 15 phần do chị T làm đầu thảo; chứng cứ chứng minh chị T có giao tiền hụi cho chị X bằng 47.100.000 đồng; chứng cứ chứng minh chị T có choàng hụi tuy nhiên chị T chỉ cung cấp cho Tòa án sổ hụi, tại sổ hụi do chị T cung cấp có thể hiện hụi viên Minh T2 đứng vị trí thứ 14 bỏ thăm ngày 22/11/2019 với số tiền bỏ thăm là 1.700.000 đồng, ngoài ra tại các biên bản ghi lời khai của các hụi viên cùng tham gia chung dây hụi đều xác nhận trong dây hụi loại hụi 5.000.000 đồng khui theo vụ lúa ngày 15/3/2019 thì có hụi viên tên là Minh T2 và có hụi viên xác nhận khi đi khui hụi thì thấy chị X đi khui hụi anh T2 không có đi khui, nhưng ở những lần khui hụi sau thì không thấy chị X đi khui nữa, từ đó có cơ sở xác định chị X và anh T2 có tham gia góp hụi do chị T làm đầu thảo, mặc dù chị T không cung cấp được cho Tòa án chứng cứ chứng minh chị T có giao tiền hụi bằng 47.100.000 đồng cho chị X, nhưng chị T chứng minh được chị X có tham gia góp hụi và một số hụi viên đều xác nhận hụi khui đến mãn và đã nhận tiền hụi đầy đủ từ chị T. Nên có cơ sở khẳng định chị X và anh T2 có tham gia góp hụi và có nợ tiền hụi của chị T bằng 06 lần với số tiền là 30.000.000 đồng.
Về lãi suất do chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét để giải quyết
Từ những nhận định trên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh T, chấp nhận lời đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần.
Về án phí: do yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thanh T được chấp nhận nên chị Nguyễn Thị Thanh T không phải chịu án phí. Buộc chị Đinh Thị Hồng X và anh Nguyễn Minh T2 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào Điều 463; 466 và 468 bộ luật dân sự
Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh T. Buộc chị Đinh Thị Hồng X và anh Nguyễn Minh T2 phải có trách nhiệm hoàn trả cho chị Nguyễn Thị Thanh T số tiền là 30.000.000 đồng
- Về án phí: Buộc chị Đinh Thị Hồng X và anh Nguyễn Minh T2 phải chịu 1.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chị Nguyễn Thị Thanh T không phải chịu án phí, hoàn trả cho chị Nguyễn Thị Thanh T số tiền tạm ứng án phí 750.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000286 ngày 22/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiểu Cần.
- Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án), cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Thạch Thị Thu Hiền |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Văn Bé – Nguyễn Thị Tuyết Lệ | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thạch Thị Thu Hiền |
Bản án số 74/2024/DS- ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 74/2024/DS- ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án tranh chấp hợp đồng góp hụi giữa bà Nguyễn Thị Thanh Th với anh Nguyễn Minh T
