|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 74/2024/DS-ST Ngày: 25-7-2024 V/v Tranh chấp hợp đồng góp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH LONG AN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Nhị
- Ông Trịnh Thế Phương Nam
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Thái Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 133/2024/TLST-DS, ngày 13 tháng 5 năm 2024. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2024/QĐXXST-DS, ngày 09 tháng 7 năm 2024 giữa:
Nguyên đơn: bà Trần Thị R, sinh năm 1965; Địa chỉ: ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An.
Bị đơn: bà Lê Thị T, sinh năm 1967; Địa chỉ: ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An.
(Các đương sự có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị R trình bày: Bà T có tham gia hụi do bà R làm chủ, hụi hoa hồng cụ thể như sau:
- Hụi 5 triệu đồng, mỗi năm khui 3 lần, khui ngày đầu 30/2/2020 (âm lịch), lần 2 vào ngày 30/7/2020 (âm lịch), lần 3 vào ngày 30/10/2020 (âm lịch), gồm 14 phần, bà T tham gia một phần. Bà T đã hốt hụi kỳ thứ 2 bỏ 2.600.000đ, bà R đã giao 28.800.000đ (gồm 1 phần chết và 12 phần sống là 33.800.000đ, trừ cò 2.000.000đ và trừ dây hụi khác thiếu 3.000.000đ), bà T có đóng 03 kỳ hụi chết số tiền 15.000.000đ nhưng sau đó không đóng hụi chết. Dây hụi này là 15 phần nhưng do ngày khui hụi 30/2/2020 bà T chưa tham gia nên mới trừ ra cho bà T 01 kỳ hụi nên chỉ tính 14 phần hụi và bà R giao hụi để 13 phần như giấy giao hụi bà T nộp cho Tòa án. Bà R xác định giấy giao hụi bà T nộp là giao hụi 5.000.000 đồng khui ngày 30/02/2020 chứ không phải giao hụi của dây hụi khui năm 2016 như bà T trình bày. Tính đến kỳ hụi ngày 30/02/2023 (âm lịch) thì bà T nợ 4 kỳ hụi, tương đương số tiền 20.000.000 đồng. Hụi mãn tháng 11/2024.
- Hụi 2 triệu đồng, mỗi tháng khui 1 lần, khui ngày đầu 30/9/2022 (âm lịch), gồm 19 phần, bà T tham gia một phần. Bà T đã hốt hụi kỳ đầu bỏ số tiền 450.000đ, bà R giao hụi 27.900.000đ nhưng sau đó bà T không đóng hụi chết lại cho bà R với nhiều lý do bà T đưa ra như ảnh hưởng dịch Covid-19, do con bị bệnh ung thư. Khi giao hụi bà R không lập giấy giao hụi. Hụi mãn ngày 30/3/2024. Bà T nợ 18 kỳ, tương đương số tiền 36.000.000 đồng.
- Hụi 1 triệu đồng, mỗi tháng khui 1 lần, khui ngày đầu 30/12/2021 (âm lịch), gồm 18 phần, bà T tham gia một phần. Bà T đã hốt hụi kỳ đầu tiên, bỏ 400.000đ, bà R giao 13.200.000đ, bà T đóng hụi chết được 8 kỳ số tiền 8.000.000đ, nhưng sau đó không đóng hụi. Dây hụi này đã mãn vào tháng 8/2023 (âm lịch). Bà T nợ 9 kỳ, tương đương số tiền 9.000.000 đồng.
Đối với khoản hốt hụi trả còn thiếu lại: 4.500.000 đồng bà R không yêu cầu giải quyết trong vụ án này. Sau này khi cần thiết bà R sẽ kiện để yêu cầu giải quyết. Do bà R phải choàng hụi cho bà T trong 03 dây hụi trên với tổng số tiền 65.000.000đ. Nay bà R yêu cầu bà T hoàn trả nợ hụi là 65.000.000đ cho bà R. Ngoài ra không có yêu câu gì khác.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Lê Thị T trình bày: Bà T chỉ thừa nhận có chơi dây hụi 5.000.000đ vào ngày 15/02/2016 (AL), hụi 5.000.000đ và dây hụi 1 triệu mở ngày 30/6/2021 (AL). Cả 02 dây hụi bà T tham gia 01 phần đã hốt. Dây hụi 5 triệu bà T hốt được 33.800.000đ, trừ cò 2.000.000đ và đóng hụi lại 3.000.000đ hụi khác nên bà R giao 28.800.000đ theo giấy giao hụi bà T giao nộp. Khi giao hụi bà R không ghi rõ hụi mở ngày 15/02/2016 nên bà T mới ghi thêm mặt sau của giấy giao hụi với nội dung “Vô hụi ngày 15-02-2016, mãng hụi 2022, 12 người sống”. Cả 02 dây hụi bà T đã đóng hụi chết cho bà R chỉ còn nợ bà R số tiền 18.160.000đ. Giấy giao hụi bà R giao 01 phần hụi chết, 12 phần sống số tiền 28.800.000₫ là của dây hụi 5.000.000đ khui ngày 15/02/2016 mà không phải dây hụi 5.000.000đ ngày khui ngày đầu 30/2/2020 (âm lịch) như bà R trình bày. Đối với các dây hụi 2 triệu đồng, mỗi tháng khui 1 lần, khui ngày đầu 30/9/2022 (âm lịch) gồm 19 phần và hụi 1 triệu đồng, mỗi tháng khui 1 lần, khui ngày đầu 30/12/2021 (âm lịch), gồm 18 phần bà R khởi kiện thì bà T xác định bà không tham gia. Bà chỉ đồng ý hoàn trả cho bà R số tiền 18.160.000đ. Ngoài ra không có ý kiến hay yêu cầu nào khác.
Vụ án được Tòa án tiến hành hòa giải nhưng không thành nên Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn vẫn giữ nguyên ý kiến.
Cả nguyên đơn và bị đơn đều không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ cần xem xét tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Bà Trần Thị R khởi kiện yêu cầu bà Lê Thị T trả số tiền hụi phát sinh từ hợp đồng góp hụi. Đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự chịu sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự thì tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Bà Lê Thị T hiện cư trú tại ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ thì tranh chấp trên thuộc thẩm quyền thụ lý giải quyết của Toà án nhân dân huyện Thủ Thừa.
[2]. Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị R yêu cầu bà T hoàn trả số tiền hụi 65.000.000đ, HĐXX xét thấy:
[2.1]. Xét dây hụi 5 triệu đồng, mỗi năm khui 3 lần, khui ngày đầu 30/2/2020 (âm lịch), lần 2 vào ngày 30/7/2020 (âm lịch), lần 3 vào ngày 30/10/2020 (âm lịch), gồm 15 phần.
Tại phiên tòa bà R xác định bà T tham gia một phần. Bà T đã hốt hụi kỳ thứ 3 bỏ 2.600.000đ, bà R đã giao 28.800.000đ. Tính đến kỳ hụi ngày 30/02/2023 (âm lịch) thì bà T nợ 4 kỳ hụi, tương đương số tiền 20.000.000 đồng.
Tại các bản tự khai bà Võ Thị Đ, ông Lê Văn T1, ông Lê Minh T2 đều trình bày xác định bà T có tham gia chung dây hụi 5 triệu mở ngày 30/2/2020 (AL), đóng ngày 30/3/2020 nhưng các ông bà đều không chứng kiến việc bà R giao hụi cho bà T. Mặt khác giấy giao hụi có nội dung 01 người chết và 12 người sống như vậy dây hụi này phải là 14 phần. Bà R cho rằng bà T tham gia sau nên trừ cho bà T một kỳ hụi nhưng bà không có tài liệu để chứng minh. Hơn nữa bà R là chủ hụi trách nhiệm lập sổ hụi, theo dõi hụi là của bà R nhưng bà không lập sổ hụi, không cho các thành viên chơi hụi ký tên xác nhận đến khi giao hụi cũng không lập giấy giao hụi ghi rõ ràng cụ thể giao hụi cho dây hụi mở ngày nào. Tại phiên tòa bà T xác định không tham gia hụi 5 triệu đồng như bà R trình bày. Nhận thấy, bà R khởi kiện nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ để chứng minh bà T tham gia dây hụi 5 triệu mở ngày 30/02/2020 (AL) và đã hốt hụi, tính đến ngày 30/02/2023 (AL) còn thiếu 20.000.000đ tiền hụi nên yêu cầu khởi kiện của bà R là không có cơ sở chấp nhận.
[2.2]. Xét dây hụi 2 triệu đồng, mỗi tháng khui 1 lần, khui ngày đầu 30/9/2022 (âm lịch), gồm 19 phần.
Bà R cho rằng bà T tham gia một phần. Bà T đã hốt hụi kỳ đầu bỏ số tiền 450.000đ, bà R giao hụi 27.900.000đ. Hụi đã mãn. Bà T nợ 18 kỳ, tương đương số tiền 36.000.000 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án bà R không cung cấp được sổ hụi cũng như các tài liệu chứng minh bà T đã tham gia hụi và hốt hụi, giao hụi nên yêu cầu khởi kiện của bà là không có cơ sở để chấp nhận.
[2.3]. Xét dây hụi 1 triệu đồng, mỗi tháng khui 1 lần, khui ngày đầu 30/12/2021 (âm lịch), gồm 18 phần.
Bà R cho rằng bà T tham gia một phần. Bà T đã hốt hụi kỳ đầu tiên, bỏ 400.000đ, bà R giao 13.200.000đ. Dây hụi này đã mãn vào tháng 8/2023 (âm lịch). Bà T nợ 9 kỳ hụi, tương đương số tiền 9.000.000 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án bà R không cung cấp được sổ hụi cũng như các tài liệu chứng minh bà T đã tham gia hụi và hốt hụi, giao hụi nên yêu cầu khởi kiện của bà là không có cơ sở để chấp nhận.
[2.4]. Tại phiên tòa bà Tình tự n hoàn trả cho bà R số tiền 18.160.000đ còn thiếu của các dây hụi khác nên ghi nhận.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của bà R không được chấp nhận nên bà R phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền bị bác theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26 và các Điều 35, 39, 147, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 471 Bộ luật dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Điều 26 luật thi hành án dân sự.
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị R đối với bà Lê Thị T về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.
- Ghi nhận sự sự nguyện của bà Lê Thị T hoàn trả cho bà Trần Thị R số tiền 18.160.000₫.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị R phải chịu 3.250.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Khấu trừ cho bà Trần Thị R 1.737.000 đồng số tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0008392 ngày 10/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa sang án phí. Bà Trần Thị R phải nộp thêm 1.513.000 đồng.
- Án xử công khai sơ thẩm, đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án được quyền tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật Thi hành dân sự án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hương |
Bản án số 74/2024/DS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 74/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị R - Lê Thị T
