|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 74/2024/HS-ST Ngày 25-7-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mùi.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Kim Niệm;
Bà Lê Thị Phương Dung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vương Hoàng Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên tòa:
Ông Trịnh Đình Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2024/HSST ngày 21 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Trường H, sinh năm 1984 tại Đồng Nai; giới tính: nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; con ông Phạm Trường C, sinh năm 1953 và bà Lê Thị A, sinh năm 1957; bị cáo có vợ tên Huỳnh Thị Thùy D (đã ly hôn), bị cáo chưa có 01 con sinh năm 2015; Tiền án: Ngày 22/5/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, TP. xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 81/2017/HSST (chưa xóa án tích); Ngày 09/7/2020 bị Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Bắt giữ người trái pháp luật” và tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo Bản án số 123/2020/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/9/2022 (chưa xóa án tích); Tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/11/2023 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Phạm Trường H là người nghiện ma túy, khoảng 15 giờ ngày 28/11/2023, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 93P1-143.84 đi từ Thành phố Hồ Chí Minh đến thành phố Đ, tỉnh Bình Phước để thăm người bạn tên T (bị cáo không rõ nhân thân, lai lịch của T), bị cáo và T đi uống cà phê và đi nhậu. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên bị cáo nhờ T đi mua ma túy với số tiền 500.000 đồng. Khoảng 15 phút sau, T đưa cho bị cáo 01 bịch nylon hàn kín bên trong có chứa ma túy đá, sau đó T tiếp tục đưa thêm cho bị cáo 01 bịch nylon miệng kéo dính bên trong có chứa ma túy đá và nói với bị cáo là bịch ma túy này là tặng cho bị cáo; T đưa tiếp cho bị cáo 03 bịch nylon miệng kéo dính bên trong có chứa ma túy đá được gói trong 01 chiếc khẩu trang rồi nói với bị cáo là nhờ đưa 03 bịch ma túy gói trong khẩu trang về Thành phố Hồ Chí Minh giúp cho T, lúc nào T đến TP. sẽ liên hệ với H để lấy 03 bịch ma túy trên thì bị cáo đồng ý. Khoảng 21 giờ cùng ngày, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 93P1-XXX.XX mang theo số ma túy trên về đến đường ĐT XYZ thuộc ấp B, xã A, huyện P thì bị lực lượng Công an giao thông huyện P yêu cầu dừng xe kiểm tra, do trên người có ma túy nên bị cáo hoảng sợ bỏ chạy nhưng bị lực lượng Công an đuổi theo khống chế và bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số ma túy nói trên.
Tại Bản kết luận giám định 646/KL-KTHS(MT) ngày 05/12/2023 của Phòng kỹ thuận hình sự Công an tỉnh B kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng/ trọng lượng: 5,7756 gam (M1-1); 1,7715 gam (M1-2); 12,3224 gam (M2-1); 2,1568 gam (M2-2).
Tại bản Cáo trạng số 66/CT-VKSPG, ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố bị cáo Phạm Trường H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại các điểm g, điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” điểm h, điểm p khoản 2 Điều 250 của Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu lời luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Phạm Trường H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g, o khoản 2 Điều 249 và tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h, p khoản 2 Điều 250 của Bộ luật hình sự; Về hình phạt: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm g, o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Trường H từ 06 (sáu) năm đến 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm h, p khoản 2 Điều 250, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Trường H từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Đề nghị HĐXX tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đề nghị trả cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu Gold; 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng; 01 hộp quẹt ga màu tím.
- Đề nghị tịch thu tiêu hủy ma túy sau khi giám định được niêm phong trong 02 bì thư có dấu mộc đỏ của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương; 01 khẩu trang màu kem, quai đeo màu đen
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã vi phạm pháp luật, ăn năn, hối cải về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Trường H khai nhận khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 28/11/2024, trên đoạn đường ĐT 741 thuộc ấp B, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương, bị cáo H có hành vi tàng trữ trái phép 7.5471 gam ma túy loại Methamphetamine, mục đích sử dụng và vận chuyển trái phép 14,4792 gam ma túy loại Methamphetamine từ thành phố Đ, tỉnh Bình Phước đến Thành phố Hồ Chí Minh cho đối tượng tên T (không rõ nhân thân lai lịch) thì bị lực lượng Công an huyện P bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy trên người bị cáo.
Căn cứ Kết luận giám định 646/KL-KTHS(MT) ngày 05/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng/ trọng lượng: 5,7756 gam (M1-1); 1,7715 gam (M1-2); 12,3224 gam (M2-1); 2,1568 gam (M2-2).
Hành vi trên của bị cáo Phạm Trường H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” được quy định tại Điều 250 Bộ luật Hình sự.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy mà còn gây nguy hại lớn cho xã hội và con người, ma túy là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Khi bắt quả tang thu giữ khối lượng ma túy mà bị cáo vận chuyển là 14,4792 gam Methamphetamine; bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nên bị áp dụng điểm h, p khoản 2 Điều 250 Bộ luật Hình sự. Khối lượng ma túy bị cáo H cất giấu là 7.5471 gam Methamphetamine; bị cáo tái phạm nguy hiểm nên bị áp dụng điểm g, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Như vậy, Cáo trạng số 66/CT-VKSPG ngày 19/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Trường H có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Do đó, HĐXX sẽ cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xét xử bị cáo một mức án phù hợp.
[5] Về xử lý vật chứng:
- - Số ma túy sau khi giám định được đựng trong 02 (hai) bì thư có mộc đỏ của Phòng K công an tỉnh B là vật cấm tàng trữ, lưu hành. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.
- - 01 (một) khẩu trang màu kem, quai đeo màu đen. Xét thấy không còn giá trị sử dụng. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu Gold; 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng; 01 hộp quẹt ga màu tím. Xét thấy đây là tài sản hợp pháp của bị cáo H, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo H.
[6] Đối với đối tượng tên T là người đã bán ma túy cho bị cáo H và nhờ bị cáo đưa ma túy về Thành phố Hồ Chí Minh. Do đối tượng T chưa rõ nhân thân lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P tiếp tục điều tra xử lý sau. Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
[7] Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 93P1-143.84, số khung RLCUE3720MY092829, số máy E32VE507789 bị cáo H sử dụng làm phương tiện phạm tội. Quá điều tra xác định chiếc xe trên là vật chứng liên quan đến vụ trộm cắp tài sản xảy ra năm 2021 tại phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P đã chuyển xe trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ, tỉnh Bình Phước để điều tra, xử lý. Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, hình phạt, điều khoản, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điểm g, điểm o khoản 2 Điều 249, điểm h, điểm p khoản 2 Điều 250, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Trường H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Trường H 06 (sáu) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 13 (mười ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 28/11/2023.
- Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư ghi số 646M1/PC09 niêm phong có dấu mộc của Phòng K Công an tỉnh B (có chữ ký của Hoàng Trọng A1, Trần Hoàng M, Phạm Trường H, khối lượng M1-1 = 5,2643 gam; M1-2 = 1,5459 gam theo kết luận giám định và biên bản giao nhận mẫu giám định); 01 (một) bì thư ghi số 646M2/PC09 niêm phong có dấu mộc của Phòng K Công an tỉnh B (có chữ ký của Hoàng Trọng A1, Trần Hoàng M, Phạm Trường H, khối lượng M2-1 = 10,8723 gam; M2-2 = 1,7952 gam theo kết luận giám định và biên bản giao nhận mẫu giám định); 01 khẩu trang màu kem, quai đeo màu đen;
- - Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu Gold; 01 (một) hộp quẹt ga màu tím; số tiền 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng).
Thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21 tháng 6 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo và giấy nộp tiền ngày 21 tháng 6 năm 2024.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phạm Trường H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mùi |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Kim Niêm Lê Thị Phương Dung |
Nguyễn Thị Mùi |
Bản án số 74/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG về vụ án hình sự về tàng trữ và vận chuyển trái phép chất ma túy
- Số bản án: 74/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về Tàng trữ và Vận chuyển trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
