Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MANG THÍT

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2023/DS-ST

Ngày: 24-10-2023

V/v tranh chấp thừa kế

quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Hồng Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Phẩm
  2. Ông Nguyễn Đinh Cường

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Mai Phụng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Phấn, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 22/2021/TLST-DS, ngày 05 tháng 3 năm 2021. Về việc: “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2023/QĐXXST- DS, ngày 14 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

  1. Bà Trần Thị T, sinh năm 1943.
  2. Bà Trần Thị H, sinh năm 1938.
  3. Địa chỉ: ấp B, xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

  4. Bà Trần Thị S, sinh năm 1953.
  5. Địa chỉ: ấp P, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

  6. Ông Trần Văn B, sinh năm 1953
  7. Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Trần Thị H, Trần Thị S, Trần Văn B: Nguyên đơn Trần Thị T (có mặt).

(theo các văn bản uỷ quyền ngày 22/9/2020, ngày 23/9/2020, ngày 02/10/2020, ngày 09/11/2020)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Trần Thị T: Luật sư Phạm Trung Đ - Văn phòng Luật sư Phạm Trung Đ - Đoàn Luật sư tỉnh V (có mặt).

Địa chỉ: Số G, đường L, Khóm A, thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

2. Bị đơn: Bà Cao Thị D, sinh năm 1964 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp B, xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trần Thị N, sinh năm 1949 (chết ngày 02/10/2022).
  2. Đ1 chỉ: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.

  3. Chị Trần Thị N1, sinh năm 1991 (vắng mặt).
  4. Ông Võ Văn Bé N2, sinh năm 1972 (chết đầu năm 2023).
  5. Bà Trương Thị Đ2, sinh năm 1979 (vắng mặt).
  6. Cùng địa chỉ: ấp B, xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

  7. Ủy ban nhân dân huyện M - Người đại diện theo pháp luật (vắng mặt).

4. Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của bà Trần Thị N:

  1. Chị Cao Thị D1, sinh năm 1970 (vắng mặt).
  2. Anh Cao Văn P, sinh năm 1971(vắng mặt).
  3. Ông Cao Ngọc N3, sinh năm 1939 (vắng mặt).
  4. Cùng địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.

5. Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của ông Võ Văn Bé N2: Anh Võ Trương Lê T1, sinh năm 1999 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp B, xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 16 tháng 9 năm 2020, đơn khởi kiện bổ sung ngày 30 tháng 10 năm 2021 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà sơ thẩm thì nguyên đơn Trần Thị T, Trần Thị H, Trần Thị S, Trần Văn B, người đại diện theo uỷ quyền của các nguyên đơn Trần Thị H, Trần Thị S, Trần Văn B là nguyên đơn Trần Thị T trình bày:

Cha, mẹ của nguyên đơn bà Trần Thị T là cụ ông Trần Văn G (chết năm 1976), mẹ là cụ bà Nguyễn Thị B1 (chết năm 1975). Vợ chồng cụ G, cụ B1 có các con chung là Trần Thị H, Trần Thị T, Trần Văn T2 (hy sinh năm 1965 không có vợ, con), Trần Thị N, Trần Thị S, Trần Văn B, Trần Văn T3 (chết năm 2011) ông T3 có vợ là Cao Thị D, 02 con là Trần Minh L (chết năm 2019 không có vợ, con), Trần Thị N1 đang chung sống với bà D. Cụ G, cụ B1 không có con nuôi, con riêng.

Cụ G, cụ B1 chết không để lại di chúc, có để lại tài sản chung là thửa đất 1239 (theo chương trình đất là thửa 539), diện tích là 4.420m², loại đất 2 lúa, đã

tách thành 02 thửa 701 (theo chương trình đất thửa số 539-1) và 702 (theo chương trình đất thửa số 539-2). Bị đơn bà Cao Thị D đã chuyển nhượng cho ông N2 thửa đất số 702 đã sang tên và ông N2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là thửa số 34, tờ bản đồ số 12; còn lại thửa 701 (539-1) bà D đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là thửa số 50, tờ bản đồ số 12, hiện do bà D quản lý sử dụng.

Ngoài ra cụ G, cụ B1 còn để lại thửa đất số 853 (theo chương trình đất là thửa đất số 172), diện tích là 1280m², loại đất TQ, hiện bà D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là thửa số 197, tờ bản đồ số 7, hiện do bà D quản lý sử dụng.

Tất cả 02 thửa đất hiện tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

Do không thoả thuận được, nên chính quyền địa phương hoà giải nhưng không thành, nên bà T, bà H, ông S, ông B làm đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết như sau:

Đối với thửa 539, diện tích 4.420m² chia thừa kế thành 05 phần (không tính chia cho bà N) cho Trần Thị H, Trần Thị T, Trần Thị S, Trần Văn B và con ông Trần Văn T3 (chết năm 2011) là Trần Thị N1 mỗi người diện tích bằng nhau; cụ thể như sau: Thửa 701 (theo chương trình đất thửa số 539-1, theo giấy chứng nhận là thửa số 50), loại đất chuyên trồng lúa ngước, diện tích là 1.474,7m² chia 05 phần bằng nhau, vị trí phần đất được chia phù hợp quản lý canh tác và đề nghị Toà án quyết định. Phần bà D đã chuyển nhượng cho ông N2 hiện thuộc thửa 702 (theo chương trình đất thửa số 539-2, theo giấy chứng nhận là thửa số 34), diện tích là 2.218,9m², loại đất trồng lúa, bà D phải trả lại giá trị bằng tiền cho 05 người được chia. Nếu được chia phần đất thửa số 701 (theo chương trình đất thửa số 539-1, theo giấy chứng nhận thửa số 50) thì yêu cầu chia chung 04 nguyên đơn cùng đứng tên theo luật định.

Đối với thửa đất số 172, diện tích thực tế là 1.725,4m², loại đất TQ, hiện bà D đang quản lý sử dụng thì yêu cầu chia chung cho tất cả 05 phần có tên nêu trên gồm Trần Thị H, Trần Thị T, Trần Thị S, Trần Văn B và con ông Trần Văn T3 (chết năm 2011) là Trần Thị N1 cùng đứng tên chung, không chia cho ai vì có mồ mã ông, bà là nhân thân chung. Không yêu cầu Toà án huỷ quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 539 và 172, ngoài ra các nguyên đơn không yêu cầu gì khác.

Thống nhất với giá đất do Toà án thu thập.

Về tài sản, cây trồng, chi phí tố tụng đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại biên bản hoà giải ngày 05/4/2021, ngày 22/4/2021 thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn Bé N2 trình bày: Vào khoảng năm 2014, ông N2 có nhận chuyển nhượng của bà Cao Thị D thửa đất do bà D đứng tên thừa kế. Giá chuyển nhượng bao nhiêu không xác định vì đã lâu, ông N2 đã trả đủ tiền cho bà D, bà D đã giao đất canh tác từ năm 2014. Ông N2 đã làm thủ tục đăng ký kê khai theo luật định, đã được Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện M cấp

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 31/12/2014. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có thế chấp vay vốn ngân hàng hay cầm cố cho ai.

Nay có tranh chấp thừa kế xảy ra giữa các anh, em bà T, ông N2 nhận chuyển nhượng đất của bà D là hợp pháp. Nay đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật, không có yêu cầu độc lập trong vụ án.

Vợ ông N2 là Trương Thị Đ2 do bận nên không đến tham dự được, nay vợ chồng ông N2 xin vắng mặt toàn bộ trong hòa giải, xét xử.

Về giá đất, tài sản có trên đất, chi phí tố tụng đề nghị Tòa án giải quyết theo luật định. Vợ ông N2 là Trương Thị Đ2 do bận nên không đến tham dự được, ông N2 và vợ xin vắng mặt tham gia khảo sát, định giá, hòa giải, công khai chứng cứ và kể cả xét xử, vì bận việc gia đình, không còn liên quan đến việc tranh chấp này. Trường hợp trả đất thì phải trả tiền cho vợ chồng ông N2 theo luật định.

Tại phiên tòa hôm nay người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Trần Thị T trình bày: Các nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế thửa đất số 1239 (theo chương trình đất là thửa 539), diện tích là 4.420m², loại đất 2 lúa; thửa số 853 (theo chương trình đất là thửa đất số 172), diện tích là 1725,4m², loại đất TQ, hiện tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long là có căn cứ, bởi nguồn gốc thửa đất của cụ G, cụ B1, cụ G và cụ B1 khi còn sống các cụ không có cho ông T3 là chồng của bà D, ông T3 tự đăng ký kê khai và không có sự đồng ý của cụ G, cụ B1. Bà D không có ý kiến, không cung cấp chứng cứ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát phát biểu về trình tự thủ tục giải quyết vụ án, việc tuân thủ quy định pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký và những người tham gia tố tụng quy định của pháp luật. Nêu nội dung vụ án, nhận định, phân tích, đánh giá chứng cứ và đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của bà T, bà H, bà S, ông B, về việc yêu cầu chia thừa kế thửa đất số 1239 (theo chương trình đất là thửa 539), diện tích là 4.420m², loại đất 2 lúa; thửa số 853 (theo chương trình đất là thửa đất số 172), diện tích là 1725,4m², loại đất TQ, hiện tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

Về chi phí khảo sát, đo đạc xem xét thẩm định tại chổ và định giá các nguyên đơn phải chịu. Vế án phí, các nguyên đơn là người cao tuổi, nên được miễn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Các nguyên đơn bà Trần Thị T, bà Trần Thị H, bà Trần Thị S, ông Trần Văn B khởi kiện bị đơn bà Cao Thị D là tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 5 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú huyện M; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định

tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Mang Thít thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.

Ngày 03 tháng 10 năm 2023 Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử lần thứ nhất, Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng bị đơn bà Cao Thị D; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị N1, bà Trương Thị Đ2; người kế thừa quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của bà Trần Thị N là Cao Thị D1, Cao Văn P, Cao Ngọc N3; người kế thừa quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của ông Võ Văn Bé N2 là Võ Trương Lê T1 vắng mặt, nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa. Hôm nay xét xử lần 2, mặc dù đã bàn giao văn bản tố tụng hợp lệ nhưng các đương sự tiếp tục vắng mặt không có lý do; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đại diện theo pháp luật Ủy ban nhân dân huyện M có đơn xin vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự là có căn cứ, đúng quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án:

Cụ Trần Văn G (chết năm 1976) và vợ là cụ Nguyễn Thị B1 (chết năm 1975). Theo quy định tại Điều 36 Pháp lệnh thừa kế năm 1990 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về Pháp lệnh thừa kế, thì thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày 10/9/1990. Theo quy định Điều 623 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Thời hiệu để người thừa yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ ngày mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó...”. Ngày 16/9/2020 bà Trần Thị T, bà Trần Thị H, bà Trần Thị S, ông Trần Văn B là con của cụ G, cụ B1 khởi kiện yêu cầu Toà án chia di sản thừa kế theo pháp luật là thửa đất số 1239 (theo chương trình đất là thửa 539), diện tích là 4.420m², loại đất 2 lúa; thửa số 853 (theo chương trình đất là thửa đất số 172), diện tích là 1725,4m², loại đất TQ của cụ G, cụ B1 để lại là hết thời hiệu khởi kiện.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Cao Thị D; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị N1, Trương Thị Đ2; người kế thừa quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của bà Trần Thị N là Cao Thị D1, Cao Văn P, Cao Ngọc N3; người kế thừa quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của ông Võ Văn Bé N2 là Võ Trương Lê T1 vắng mặt không có văn bản trình bày ý kiến, không tham gia hòa giải, xét xử, không có chứng cứ chứng minh, nên phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định tại các Điều 6, 91, 196 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tuy nhiên, theo chứng thực lưu trữ địa chính số 930/CTLT-TTCNTT, ngày 24/5/2013 của Trung tâm công nghệ thông tin thì, theo Chỉ thị 299/TTg, ngày 10/11/1980 thửa đất 528, 796 do ông Trần Văn T3 đăng ký sổ bộ địa chính, đất toạ lạc tại ấp B, xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Theo tư liệu bản đồ giải thửa năm 1991 thửa 172, tờ bản đồ số 2 do ông Trần Văn T3 đăng ký trong sổ bộ địa chính, thửa 539 do hộ ông Trần Văn T3 đăng ký sổ bộ địa chính. Năm 2011 bà Cao Thị D đăng ký sổ bộ địa chính (nhận thừa kế quyền sử dụng đất)

Tại Công văn số 1222/UBND-NC, ngày 05/10/2022 của Ủy ban nhân dân huyện M phúc đáp cho Toà án như sau:

Đối với thửa số 50: Theo tư liệu chương trình đất ghi nhận hộ Trần Văn T3 được UBND huyện M cấp giấy chứng nhận QSDĐ có số phát hành T 608966, số vào sổ 41338; cấp ngày 12/11/2004; Thửa số 539, tờ bản đồ số 2, diện tích 4.420m², loại đất lúa. Đất tọa lạc ấp B, xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

Ngày 20/02/2012 bà Cao Thị D được Văn phòng đăng ký QSDĐ huyện M (nay là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M) chỉnh trang bốn giấy chứng nhận QSDĐ do nhận thừa kế. Ngày 26/3/2012 bà Cao Thị D làm đơn xin tách thửa đất, hợp thửa đất. Lý do đo đạc để chuyển quyền sử dụng đất. Ngày 06/4/2012 Văn phòng đăng ký QSDĐ huyện M (nay là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M) kết hợp với UBND xã H khảo sát đo đạc hiện trạng, đến ngày 13/4/2012 bà Cao Thị D được Phòng T4 cấp trích đo bản đồ địa chính khu đất chiết thửa 539-1, diện tích 1.479,3m², loại đất lúa, chiết thửa số 539-2, diện tích 2.218,9m², loại đất trồng lúa. Bà Cao Thị D lập hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ cho ông Võ Văn Bé N2 thuộc chiết thửa số 539-2, diện tích 2.218,9 m², loại đất trồng lúa. Ngày 08/6/2012 bà Cao Thị D được UBND huyện M cấp giấy chứng nhận QSDĐ có số phát hành BI 347532, số vào sổ CH 01134, thửa số 701 (thửa 539-1), tờ bản đồ số 2, diện tích 1.479,3 m², loại đất chuyên trồng lúa nước.

Thực hiện đo đạc cấp đổi theo bản đồ địa chính chính quy (V), ngày 31/12/2014 bà Cao Thị D được UBND huyện M cấp giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liến với đất có số phát hành tổng cục C 369560, số vào sổ CH02256, thửa số thửa số 50, tờ bản đồ số 12, diện tích 1.474,7m², loại đất chuyên trồng lúa nước. Đất tọa lạc: ấp B, xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

Đối với thửa số 197: Theo tư liệu chương trình đất ghi nhận Trần Văn T3 được UBND huyện M cấp giấy chứng nhận QSDĐ có số phát hành R 044575, số vào sổ 35758, cấp ngày 01/02/2004; Thửa số 172, tờ bản đồ số 2, diện tích 1.280m², loại đất thổ vườn. Đất tọa lạc: ấp B, xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

Ngày 20/02/2012 bà Cao Thị D được Văn phòng đăng ký QSDĐ huyện M (nay là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M) chỉnh trang bốn giấy chứng nhận QSDĐ do nhận thừa kế. Thực hiện đo đạc cấp đổi giấy chứng nhận QSDĐ theo bản đồ địa chính chính quy (VLap). Ngày 31/12/2014 bà Cao Thị D được UBND huyện M cấp giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số phát hành tổng cục B2 452756, số vào sổ CH01868, thửa số thửa số 197, tờ bản đồ số 7, diện tích 1725,4m², loại đất ở nông thôn (300m²) và trồng cây lâu năm (1.425,4m²). Đất tọa lạc: ấp B, xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

Việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho bà Cao Thị D đối với giấy chứng nhận QSDĐ có số phát hành tổng cục CB 369560, số vào sổ CH02256, cấp ngày 31/12/2014 và giấy chứng nhận QSDĐ có số phát hành tổng cục BN 452756, số

vào số CH01868, cấp ngày 31/12/2014 được thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định.

Việc cấp chứng nhận QSDĐ cho ông Võ Văn Bé N2 đối với giấy chứng nhận QSDĐ có số phát hành tổng cục CB 369569, số vào sổ CH02269, cấp ngày 31/12/2014 được thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định.

Như vậy có đủ căn cứ xác định thửa đất số 1239 (theo chương trình đất là thửa 539), diện tích là 4.420m², loại đất 2 lúa; thửa số 853 (theo chương trình đất là thửa đất số 172), diện tích là 1.725,4m², loại đất TQ là quyền sử dụng hợp pháp của bà D, không phải là di sản của cụ G, cụ B1 để lại. Bà T, bà H, bà S, ông B không có chứng cứ chứng minh. Do đó, không chấp nhận yêu cầu của bà T, bà H, bà S, ông B, về việc yêu cầu chia thừa kế thửa đất số 1239 (theo chương trình đất là thửa 539), diện tích là 4.420m², loại đất 2 lúa; thửa số 853 (theo chương trình đất là thửa đất số 172), diện tích là 1.725,4m², loại đất TQ, hiện tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

[3] Quan điểm của luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là không có căn cứ như nhận định trên, nên không chấp nhận.

[4] Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với nhận định trên, nên chấp nhận.

[5] Về chi phí xem xét thẩm định tại chổ; khảo sát, đo đạc và định giá là 2.800.000 đồng, do không chấp nhận yêu cầu của bà T, bà H, bà S, ông B nên các nguyên đơn phải chịu, bà T đại diện theo uỷ quyền của các nguyên đơn đã nộp xong, nên không phải nộp thêm.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà T, bà H, bà S, ông B là người cao tuổi theo quy định Điều 2 Luật người cao tuổi, điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nên được miễn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 36 Pháp lệnh thừa kế năm 1990; Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về Pháp lệnh thừa kế; các Điều 609, 611, 612, 613, 614, 623 của Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 166, 170, 203 của Luật đất đai; khoản 5 Điều 26 và các Điều 35, 39, 92, 147, 157,165, 227, 228, 235, 266 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 2 của Luật người cao tuổi; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/UBNTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử;

1. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị T, bà Trần Thị H, bà Trần Thị S, ông Trần Văn B, về việc yêu cầu chia thừa kế di sản của cụ Trần Văn G và cụ Nguyễn Thị B1 để lại là thửa đất số 539, tờ bản đồ số 2 (theo Giấy chứng nhận QSDĐ có số phát hành tổng cục CB 369560, số vào sổ

CH02256, cấp ngày 31/12/2014 do bà Cao Thị D đứng tên là thửa đất số 50, tờ bản đố số 12, diện tích 1.474,7m², loại đất chuyên trồng lúa nước; theo giấy chứng nhận QSDĐ có số phát hành tổng cục CB 369569, số vào sổ CH02269, cấp ngày 31/12/2014 do ông Võ Văn Bé N2 đứng tên là thửa đất số 34, tờ bản đồ số 12, diện tích 2.217,6m², loại đất chuyên trồng lúa nước), diện tích là 4.420m², loại đất 2 lúa; thửa đất số 172 (theo giấy chứng nhận QSDĐ có số phát hành tổng cục BN 452756, số vào sổ CH01868, cấp ngày 31/12/2014 do bà Cao Thị D đứng tên là thửa đất số 197, tờ bản đồ số 7, diện tích là 1725,4m², mục đích sử dụng đất: Đất ở 300,0m², đất trồng cây lâu năm 1425,4m²), diện tích là 1725,4m², loại đất TQ, hiện cùng tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

2. Về chi phí xem xét thẩm định tại chổ; khảo sát, đo đạc và định giá là 2.800.000 đồng (hai triệu tám trăm nghìn đồng), bà Trần Thị T, bà Trần Thị H, bà Trần Thị S, ông Trần Văn B, nguyên đơn bà Trần Thị T đại diện theo uỷ quyền của các nguyên đơn đã nộp xong, nên không phải nộp thêm.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Nguyên đơn bà Trần Thị T, bà Trần Thị H, bà Trần Thị S, ông Trần Văn B là người cao tuổi, nên được miễn.

Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAT (P.KTNV&THA);
  • - VKSND huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Bùi Hồng Phúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2023/DS-ST ngày 24/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 74/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/10/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp thừa kế QSDĐ giữa bà T và bà D
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger