Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN B

THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2024/HS-ST
Ngày 24/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B, THÀNH PHỐ H

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Trần Vĩnh

Ông Nguyễn Minh Tú

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọt - là thư ký Tòa án nhân dân quận B

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B, thành phố H tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyên - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận B, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình S sơ thẩm thụ lý số 46 /2024/TLST-HS ngày 22 tháng 03 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐ-ST ngày 05 tháng 04 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lưu Thanh S, sinh năm 1999 ; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam;

HKTT: Thôn T, xã V, huyện Đ, tỉnh T; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: không; Con ông: Lưu Thanh T; Con bà Ân Thị B; Vợ: Chưa. Danh bản, chỉ bản số 54 lập ngày 28/12/2023 tại công an quận B ; Tiền án, tiền S : 01 tiền án;

Tiền án: Bản án số 02 ngày 17/02/2022, Toà án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 27/11/2022. (Chưa được xoá án tích). Lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm

Tiền sự : Không

Bị cáo bị bắt từ ngày 19/12/2023 Hiện đang bị tạm giam tại trại giam số 1 – Công an Thành phố H ,

(Có mặt tại phiên tòa)

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Phương A– Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước Thành phố H

( Có mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20h ngày 19/12/2023, Lưu Thanh S điều khiển xe máy Honda Wave an pha màu xanh nhạt BKS 30X9 – 5177 đi từ nhà trọ ở số 19 ngõ 163 Cầu Cốc, Tây Mỗ, Nam Từ Liêm, H đến bến cát bờ sông gần đình Chèm thuộc phường Thụy Phương, quận B mục đích để mua ma túy về sử dụng. Tại đây, S gặp một người đàn ông dáng giống người nghiện, S đã hỏi và nhờ người này mua hộ 200.000đồng ma túy hêroin. Người đàn ông đồng ý và cầm tiền của S đi đâu đó khoảng 2 phút sau thì quay lại đưa cho S 01 gói ma túy bọc giấy màu trắng. S đã lấy một phần ma túy trong gói ra sử dụng, phần còn lại thì cất giấu vào trong túi quần rồi điều khiển xe máy đi đến quán nước gầm cầu Thăng Long. Khi S đang ngồi uống nước thì bị tổ công tác công an phường Thụy Phương kiểm tra bắt quả cùng vật chứng.

Tại cơ quan điều tra, Lưu Thanh S khai nhận hành vi như trên. (BL 66-70).

Đối với người đàn ông bán ma túy cho S (như S khai). Quá trình điều tra không các định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra mở rộng.

Đối với xe máy Honda Wave an pha màu xanh nhạt BKS 30X9 – 5177, số khung 071331, số máy 2571344 thu giữ của Lưu Thanh S, S khai mượn xe của anh Nguyễn Quang Sơn (SN 1984, HKTT: An Khánh, Hoài Đức, H ) là người quen của S . Cơ quan điều tra đã xác minh, tra cứu chiếc xe không có trong dữ liệu xe máy vật chứng, đăng ký xe mang tên anh Nguyễn Ngọc Tiến (SN 1983, HKTT: TDP Trung, Xuân Đỉnh, B, H ). Anh Tiến trình bày: Anh mua xe và đăng ký xe vào năm 2010, đến năm 2017, anh Tiến bán lại xe cho anh Nguyễn Quang Sơn. Anh Sơn trình bày: Anh quen biết Lưu Thanh S do trước đây S làm thợ ở xưởng của anh. Sáng 19/12/2023, S đến hỏi mượn xe của anh Sơn để đi có việc. Anh Sơn không biết S sử dụng xe đi mua ma tuý. Xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội, nên ngày 12/3/2024, cơ quan điều tra ra quyết định xử lý vật chứng số 991 trao trả chiếc xe trên cho anh Nguyễn Quang Sơn. Anh Sơn đã nhận lại xe và không có ý kiến gì

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung trên.

Bản cáo trạng số 51 /CT - VKSBTL ngày 21/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận B quyết định truy tố bị cáo Lưu Thanh S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy ” theo điểm c khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình S.

Căn cứ vào nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; Điều 38; Điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình S ; Xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù;

- Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Căn cứ điều 47 của Bộ luật hình S ; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình S .

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy sau giám định, bên ngoài có chữ ký giáp lai của Lưu Thanh S, cán bộ Công an phường và Giám định viên.

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 6S Plus màu hồng, lắp số thuê bao 087661302.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, là đối tượng được trợ giúp pháp lý nên được miễn án phí theo quy định.

*Người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm:

Về tội danh quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình S là có cơ sở, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa. Tuy nhiên đề nghị HĐXX xem xét cân nhắc cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai nhận đầy đủ, đúng S thật, không quanh co chối tội thể hiện Sẽ ăn năn hối cải. Đề nghị cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình S.

Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, phạm tội cũng do nhận thức pháp luật bị hạn chế. Đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng tình tiết quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình S .

Từ các phân tích trên, đề nghị HĐXX tuyên phạt mức án thấp nhất do VKS đề nghị để bị cáo phấn đấu sửa chữa sai lầm, làm lại cuộc đời, thành công dân có ích cho xã hội, cũng như thể hiện S nhân đạo, khoan hồng của pháp luật. Đề nghị HĐXX miễn án phí theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật, rất hối lỗi và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất, để sớm được đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1].Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra – Công an quận B ; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình S . Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2].Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các chứng cứ khách quan khác, đủ cơ sở kết luận:

Hồi 21h00 ngày 19/12/2023, tại khu vực gầm cầu Thăng Long, phường Đông Ngạc, B, H, Lưu Thanh S có hành vi cất giấu 0,191gam ma túy Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Công an phường Thụy Phương, quận B bắt quả tang cùng vật chứng. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình S.

Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận B truy tố hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội, bị cáo biết rõ ma tuý là chất gây nghiện, làm tổn hại đến sức khoẻ và là một trong những nguyên nhân gây nên căn bệnh AIDS, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác. Đảng và Nhà nước đã nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý nhưng bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Nhân thân bị cáo xấu, đã được pháp luật giáo dục nhưng không lấy đó là bài học, khi phạm tội, bị cáo có 01 tiền án chưa được xoá án tích, lần này phạm tội là tái phạm, đủ thấy thái độ coi thường pháp luật của bị cáo. Do vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, cách ly bị cáo khỏi đời sống chung xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên HĐXX cũng xem xét thái độ khai báo thành khẩn tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo là người dân tộc thiểu số thuộc đối tượng trợ giúp pháp lý để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo; Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[3]. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội lần này là tái phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình S

[4].Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai nhận tội, là người dân tộc thiểu số nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình S .

[5]. Về vật chứng vụ án: Số ma túy đã thu giữ là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy theo Điều 47 Bộ luật hình S, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình S . Chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone 6S Plus màu hồng, lắp số thuê bao 087661302 là tài sản của bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

[6].Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, có hoàn cảnh khó khăn, được trợ giúp pháp lý nên được miễn án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lưu Thanh S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

    Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình S .

  2. Xử phạt: Bị cáo Lưu Thanh S 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 19/12/2023

    Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình S ; Điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình S năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.

  3. Về vật chứng vụ án:

    • Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy sau giám định, bên ngoài có chữ ký giáp lai của Lưu Thanh S, cán bộ Công an phường và Giám định viên.

    • Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 6S Plus màu hồng, lắp số thuê bao 087661302. Tại thời điểm bàn giao không kiểm tra số tuê bao điện thoại. Điện thoại cũ đã qua sử dụng, bật không lên nguồn, không kiểm tra chất lượng nên trong.

      (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 134/24 ngày 29/3/2024 giữa cơ quan Cảnh sát Điều tra – Công an quận B với Chi cục Thi hành án dân S quận B )

  4. Về án phí và quyền kháng cáo:

    Bị cáo được miễn án phí hình S sơ thẩm theo quy định và có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng
  • - VKS ND quận B
  • - Công an quận B
  • - Chi cục THA dân S quận B
  • - Lưu HS

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




Lê Thị Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B, THÀNH PHỐ H về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 74/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B, THÀNH PHỐ H
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger