|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 74/2024/HS-ST
Ngày: 23-5-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vương Thanh Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Anh
Bà Nguyễn Thị Liên
Thư ký phiên toà: Bà Lê Hải Sâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hân - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 161/2023/TLST - HS ngày tháng 11 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 104a/2024/QĐXXST - HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Đặng Tiểu B. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 02/9/1988 tại huyện D, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Hải H (Chết) và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1952; anh chị em ruột: Có 06 người, bị cáo là con thứ năm trong gia đình. Vợ: Đậu Thị L. Con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2018, con nhỏ nhất sinh năm 2022. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/9/2023 đến ngày 27/9/2023 thì được tại ngoại. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.
-
Họ và tên: Cao Hồng N. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 03/5/1969 tại huyện D, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 06/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Hồng T (Chết) và bà Cao Thị V1 (chết); anh chị em ruột: Có 06 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Vợ: Đào Thị H1. Con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2002. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Năm 2015, bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt tiền 7.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, tại Bản án số 59/2015/ HS-ST ngày 01/6/2015, bị cáo chấphành xong hình phạt tiền vào ngày 01/6/2015 và chấp hành xong phần án phí hình sự sơ thẩm vào ngày 20/6/2015.
- Năm 2016, bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 05 tháng tù về tội “Đánh bạc”, tại Bản án số 47/2016/ HS-ST ngày 28/4/2016, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 15/9/2016 và chấp hành xong phần án phí hình sự sơ thẩm vào ngày 20/6/2016.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/9/2023 đến ngày 27/9/2023 thì được tại ngoại. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.
-
Họ và tên: Vi Thị T1. Tên gọi khác: Không: Sinh ngày 08/4/1985 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Bản Nật Trên, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An;nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ. Tôn giáo:Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn D, sinh năm 1964 và bà Vi Thị P, sinh năm 1964; anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; chồng: Vi Văn S; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2007. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/9/2023 đến ngày 27/9/2023 thì được tại ngoại. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.
-
Họ và tên: Vi Thị Kiều. Tên gọi khác: không. Sinh ngày 06/11/1994 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Bản Chao, xã D, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Đình D1, sinh năm 1958 và bà Vi Thị T2, sinh năm 1963; anh chị em ruột: có 04 người, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; chồng: Nguyễn Nhật A; con: có 01 con, sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/9/2023 đến ngày 27/9/2023 thì được tại ngoại. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.
-
Họ và tên: Vi Thị X. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 11/11/1993 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Bản Nật Trên, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ. Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn D, sinh năm 1964 và bà Vi Thị P, sinh năm 1964; anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; chồng: Vi Văn N1 (đã ly hôn). Con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/9/2023 đến ngày 27/9/2023 thì được tại ngoại. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.
Người làm chứng:
- Anh Hoàng Văn H2, sinh năm 1981. (Vắng mặt)
- Trú tại: Xóm H, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 23 giờ 40 phút ngày 20/9/2023, Đặng Tiểu B, Cao Hồng N, Vi Thị K, Vi Thị X, Vi Thị T1 và Hoàng Văn H2, sinh năm 1972, xóm H, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An đến thuê phòng 302, khách sạn H4, thuộc xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An chơi. Tại đây, Đặng Tiểu B, Cao Hồng N, Vi Thị K, Vi Thị X, Vi Thị T1 nảy sinh ý định đánh bạc nên Đặng Tiểu B đi mua 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân. Các đối tượng thống nhất đánh bạc dưới hình thức đánh bài liêng, ăn thua bằng tiền, số tiền đặt cược mỗi ván là 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng), số tiền tăng cược tùy ý. Quá trình các đối tượng đánh bạc, Hoàng Văn H2 nằm ngủ không tham gia. Đến khoảng 00 giờ 15 phút ngày 21/9/2023, khi các đối tượng đang đánh bạc thì bị tổ công tác Công an huyện D bắt quả tang.Thu giữ trên chiếu bạc 01 (Một) bộ bài tú lơ khơ 52 quân, số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng); thu giữ trên chiếu tại vị trí ngồi của Đặng Tiểu B số tiền 6.650.000 đồng (Sáu triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng); thu giữ trên chiếu tại vị trí ngồi của Vi Thị K số tiền 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng); thu giữ trên chiếu tại vị trí ngồi của Cao Hồng N số tiền 2.150.000 đồng (Hai triệu một trăm năm mươi nghìn đồng); thu giữ trên chiếu tại vị trí ngồi của Vi Thị X số tiền 550.000 đồng (Năm trăm năm mươi nghìn đồng); thu giữ trên chiếu tại vị trí ngồi của Vi Thị T1 số tiền 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng). Quá trình điều tra đã chứng minh được số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc như sau:
Đặng Tiểu B tham gia đánh bạc và sử dụng số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Khi cơ quan Công an phát hiện và lập biên bản B đang thắng số tiền 1.650.000 đồng (Một triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Toàn bộ số tiền đánh bạc và thắng bạc là 6.650.000 đồng để trên chiếu bạc và bị thu giữ.
Vi Thị K tham gia đánh bạc và sử dụng số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). Khi bị bắt K đang thua số tiền 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng). Số tiền 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) để tại chiếu bạc, bị thu giữ.
Vi Thị T1 tham gia đánh bạc và sử dụng số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Khi bị bắt T1 đang thua số tiền là 1.150.000 đồng (Một triệu một trăm năm mươi nghìn đồng). Số tiền còn lại 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) để dưới chiếu bạc nơi vị trí T1 ngồi, bị Công an thu giữ.
Vi Thị X tham gia đánh bạc và sử dụng số tiền 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng). Khi bị bắt X đang thua số tiền 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng), số tiền đánh bạc còn lại là 550.000 đồng (Năm trăm năm mươi nghìn đồng) để trên chiếu bạc tại vị trí X ngồi, bị Công an thu giữ.
Cao Hồng Nguyên tham gia đánh bạc và sử dụng số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Khi bị bắt, N đang thắng số tiền 650.000 đồng (Sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Toàn bộ số tiền đánh bạc và thắng bạc là 2.150.000 đồng (Hai triệu một trăm năm mươi nghìn đồng), N để trên chiếu tại vị trí ngồi, bị Công an thu giữ.
Như vậy tổng số tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc là 10.250.000 đồng (Mười triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Tại Bản kết luận giám định số 354/KL-KTHS (Đ3 - TL) ngày 28/9/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Số tiền 10.250.000 đồng gửi tới giám định là tiền thật.
Vật chứng thu giữ:
- 01 bộ bài tú lơ khơ 52 Quân đã qua sử dụng, hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu.
- Số tiền 10.250.000 đồng (Mười triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) là tiền đánh bạc, hiện đang được gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện D.
Tại bản cáo trạng số: 164/CT-VKS-DC ngày 10/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu truy tố các bị cáo Cao Hồng N, Đặng Tiểu B, Vi Thị K, Vi Thị T1 và Vi Thị X về tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại Cơđiều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội “Đánh bạc” và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Tiểu B từ 09 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Cao Hồng N từ 20 tháng đến 24 tháng cải tạo không giam giữ. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáoVi Thị Kiều, Vi Thị T1 và Vi Thị X1 bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ. Không khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo
Về vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 10.250.000 đồng, là số tiền mà các bị cáo sử dụng để đánh bạc; tịch thu, tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân là công cụ sử dụng để đánh bạc.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáokhông tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.
[2]. Về việc vắng mặt của người làm chứng: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ giấy triệu tập phiên tòa cho người làm chứng, các bị cáo bị bắt quả tang; mặt khác lời khai của người làm chứng đã đầy đủ tại hồ sơ vụ án. Xét thấy, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt người làm chứng.
[3]. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết. Xét, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 00 giờ 15 phút ngày 21/9/2023, tại phòng 302 của Khách sạn H4, thuộc xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Công an huyện D, tỉnh Nghệ An bắt quả tang Đặng Tiểu B, Cao Hồng N, Vi Thị T1, Vi Thị X, Vi Thị K đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh bài liêng ăn thua bằng tiền. Thu giữ tại chiếu bạc và tại chỗ ngồi của các bị cáo tổng số tiền 10.250.000 đồng (Mười triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) và 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân đã qua sử dụng. Như vậy, hành vi thực hiện của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Đánh bạc" được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[4]. Về tính chất vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi thực hiện của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự an toàn công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn nói riêng và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội nói chung, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, xã hội; đồng thời là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm khác. Đánh bạc là tệ nạn xã hội mà Nhà nước nghiêm cấm nên cần lên một mức án nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Vụ án có nhiều người tham gia. Tuy không phải là tội phạm có tổ chức, cầm đầu mà chỉ có tính chất đồng phạm giản đơn nhưng cần phân hóa vai trò, nhân thân của từng bị cáo để áp dụng mức hình phạt tương xứng. Qua xem xét toàn bộ hành vi thực hiện của các bị cáo, chứng cứ, tài liệu, vật chứng thu giữ có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, cũng như tính chất, mức độ tham gia và nhân thân của từng bị cáo. Xét thấy, bị cáo Đặng Tiểu B sử dụng tiền để đánh bạc nhiều nhất so với các bị cáo khác, là người chuẩn bị công cụ, đi mua 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân để đánh bạc nên chịu mức hình phạt cao nhất; bị cáo Cao Hồng N có nhân thân xấu, đã hai lần bị Tòa án xét xử cùng về tội “Đánh bạc” nên phải chịu mức hình phạt cao thứ hai; các bị cáo Vi Thị T1, Vi Thị K và Vi Thị X thực hiện hành vi “Đánh bạc” với vai trò đồng phạm giản đơn, nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên chịu mức hình phạt thấp hơn so với các bị cáo khác trong vụ án.
[5]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho tất cả các bị cáo. Bị cáo Đặng Tiểu B, Vi Thị T1, Vi Thị K và Vi Thị X phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho các bị cáo. Bị cáo Đặng Tiểu B và bị cáo Cao Hồng N đều có cả bố và mẹ đẻ có công với cách mạng, được Chủ tịch nước tặng H3, Huy chương kháng chiến hạng nhất, hạng nhì trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho hai bị cáo và xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho các bị cáo.
[7]. Về hình phạt chính: Xét, bị cáo Đặng Tiểu B sử dụng số tiền đề đánh bạc cao nhất so với các bị cáo khác, là người chuẩn bị công cụ để đánh bạc, đáng lẽ ra phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhưng xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiệm trọng, tang số đánh bạc không lớn, có nơi cứ trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng. Vì vậy, chưa nhất thiết phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù có thời hạn mà xem xét áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự để quyết định cho bị cáo được hưởng án treo, đồng thời ấn định thời gian thử thách dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa;đồng thời tạo điều kiện để bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ nghiêm. Các bị cáo Cao Hồng N, Vi Thị T1, Vi Thị K và Vi Thị X sử dụng số tiền đề đánh bạc ít hơn bị cáo B,có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có tài sản riêng, có khả năng tự cải tạo và việc cho các bị cáo cải tạo không giam giữ và không khấu trừ thu nhập cũng đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa, đồng thời tạo điều kiện để các bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ nghiêm, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
[8]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo Vi Thị T1, Vi Thị K và Vi Thị X là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; bị cáo Đặng Tiểu B và Cao Hồng N làm nghề lao động tự do, công việc làm không ổn định, thu nhập thấp và không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[9]. Về nội dung liên quan khác: Đối với chị Đậu Thị N2 là người quản lý khách sạn H4 A. Quá trình các bị cáo thuê phòng để thực hiện hành vi đánh bạc, chị Đậu Thị N2 không biết. Đối với anh Hoàng Văn H2 có mặt tại phòng 302 Khách sạn Hoa Biển A, quá trình các bị cáo đánh bạc anh H2 không tham gia. Vì vậy, chị N2 và anh H2 không có hành vi phạm tội.
[10]. Về xử lý vật chứng: Số tiền 10.250.000 đồng (Mười triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) thu của các bị cáo là số tiền dùng để đánh bạc, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. 01 bộ bài tú lơ khơ 52 Q đã qua sử dụng, là công cụ để đánh bạc, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy.
[11]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[12]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh.
Tuyên bố các bị cáo Cao Hồng N, Đặng Tiểu B, Vi Thị K, Vi Thị T1 và Vi Thị X phạm tội “Đánh bạc”.
2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Đặng Tiểu B 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án theo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 23/5/2024).
- Giao bị cáo Đặng Tiểu B cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo, thông báo kết quả chấp hành án của bị cáo với Ủy ban nhân dân xã (phường) khi có yêu cầu. Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Cao Hồng N 24 (Hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 21/9/2023 đến ngày 27/9/2023. Thời gian tạm giữ 06 (Sáu) ngày quy đổi bằng 18 (Mười tám) ngày cải tạo không giam giữ, bị cáo còn phải chấp hành 23 (Hai mươi ba) tháng 12 (Mười hai) ngày cải tạo không giam giữ.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Vi Thị T1, Vi Thị K, Vi Thị X mỗi bị cáo 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 21/9/2023 đến ngày 27/9/2023. Thời gian tạm giữ 06 (Sáu) ngày quy đổi bằng 18 (Mười tám) ngày cải tạo không giam giữ, các bị cáo còn phải chấp hành 11 (Mười một) tháng 12 (Mười hai) ngày cải tạo không giam giữ.
- Thời điểm bắt đầu chấp hành án cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện nhận được quyết định thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 10.250.000 đồng (Mười triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) là số tiền mà các bị cáo dùng để đánh bạc. (Hiện đang tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước huyện D, tỉnh Nghệ An theo biên bản giao nhận tài sản số: 38/2023/BBBG-CADC ngày 03/10/2023 và Phiếu nhập kho ngày 03/10/2023 của Kho bạc Nhà nước huyện D).
- Tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) bộ bài tú lơ khơ 52 quân, màu xanh, đã qua sử dụng. (Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 23/11/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu và phiếu nhập kho ngày 23/11/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu).
4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Các bị cáo Cao Hồng N, Đặng Tiểu B, Vi Thị K, Vi Thị T1 và Vi Thị X mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Thanh Minh |
Bản án số 74/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về hình sự (tội đánh bạc)
- Số bản án: 74/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
