Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN A

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 74/2024/DS-ST

Ngày: 23/4/2024

V/v tranh chấp hợp đồng dân sự

vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN A – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Hồng Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thị Xuân Đào
  2. Ông Đặng Khải Văn

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài – Thư ký Tòa án nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận A - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thanh Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 257/2023/TLST-DS ngày 06 tháng 12 năm 2023 về “tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2024/QĐST-DS ngày 02 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S; Địa chỉ trụ sở: Phường AT, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ liên lạc: Phường AT, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Trần Gia T, sinh năm 1971 (theo văn bản ủy quyền số 5296/2023/UQ-TGĐ ngày 28/12/2023); (có đơn xin vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Văn Thanh L, sinh năm: 1984; Địa chỉ thường trú: Phường A, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Phường K, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 06/7/2023, trong bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S (từ đây viết tắt là Ngân hàng) do ông Trần Gia T là đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 26/01/2018, ông Văn Thanh L có ký với Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S (đơn vị phát hành thẻ) – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập trong đơn đề nghị của ông L và chính sách cấp thẻ của Ngân hàng, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 100.000.000đồng (một trăm triệu đồng) cho ông Văn Thanh L, mục đích sử dụng là tiêu dùng cá nhân, mức lãi suất áp dụng theo biểu lãi suất áp dụng theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP S, tại thời điểm ký Hợp đồng, lãi suất trong hạn đối với loại tín dụng này là 2,4%/tháng.

Thực hiện Hợp đồng trên, ông L đã kích hoạt và sử dụng thẻ từ ngày 15/02/2018. Quá trình sử dụng thẻ, từ khi kích hoạt thẻ cho đến ngày 15/5/2022, ông L đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 3.607.416.713 đồng, ông L đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là 3.543.012.551 đồng, (bao gồm tiền mà ông L đã giao dịch, phí và lãi phát sinh trong kỳ thanh toán), sau đó ông L không tiếp tục thanh toán số tiền đã sử dụng và tiền lãi phát sinh cho Ngân hàng nữa, Ngân hàng cũng đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông L vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông L vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên từ ngày 16/9/2022, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông L và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 97.371.440đ (chín mươi bảy triệu ba trăm bảy mươi mốt nghìn bốn trăm bốn mươi đồng) làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại.

Tính đến ngày 23/4/2024, ông L còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 167.341.996đồng, trong đó bao gồm tiền nợ gốc là 97.371.440đồng và tiền lãi quá hạn là 69.970.556đồng.

Nay ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S yêu cầu ông Văn Thanh L thanh toán ngay cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 23/4/2024 là 167.341.996đồng, trong đó bao gồm tiền nợ gốc là 97.371.440 đồng và tiền lãi quá hạn là 69.970.556đồng, và khoản lãi quá hạn phát sinh kể từ ngày 24/4/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo mức lãi suất nợ quá hạn thỏa thuận trong hợp đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Văn Thanh L đến Toà làm bản tự khai, xác nhận có ký Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S với các chi tiết hợp đồng giống như lời trình bày của phía nguyên đơn, xác nhận còn nợ nguyên đơn số tiền nợ gốc như nguyên đơn đã trình bày, đề nghị được miễn tiền lãi, và xin trả dần nợ gốc thành nhiều đợt trong thời hạn 48 tháng. Tuy nhiên, sau đó ông L không đến Toà án làm việc theo triệu tập của Toà án nên các bên không hoà giải với nhau được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận A tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và của Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã đảm bảo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp

hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án nhưng đều vắng mặt không có lý do. Việc đưa vụ án ra xét xử đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung giải quyết vụ án: đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S khởi kiện yêu cầu ông Văn Thanh L (có địa chỉ tại Phường K, Quận A) phải thanh toán tiền nợ gốc và tiền lãi theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng do ông L ký ngày 26/01/2018, được Ngân Hàng phê duyệt hạn mức tín dụng ngày 30/01/2018, mục đích sử dụng vốn vay là để tiêu dùng. Như vậy, đây là tranh chấp về dân sự, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận A.

Bị đơn là ông Văn Thanh L đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa lần thứ hai vẫn vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông L.

[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn:

Hội đồng xét xử nhận thấy: Tòa án đã thông báo cho ông Văn Thanh L về việc Tòa án thụ lý vụ kiện và các nội dung mà nguyên đơn yêu cầu cùng với các chứng cứ kèm theo về địa chỉ mà ông L đã cung cấp khi tiến hành giao dịch với Ngân hàng Thương mại cổ phần S, tuy nhiên trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông L chỉ đến Tòa làm bản tự khai một lần, sau đó vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc cũng như tại phiên tòa. Tại bản tự khai đề ngày 27/12/2023, ông Văn Thanh L xác nhận có ký Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S) với các chi tiết hợp đồng giống như lời trình bày của phía nguyên đơn, xác nhận còn nợ nguyên đơn tổng số tiền tính đến ngày 29/5/2023 là 128.782.816 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 97.371.440đồng và tiền lãi quá hạn là 31.411.376đồng như nguyên đơn đã trình bày trong đơn khởi kiện. Ông L đề nghị được miễn tiền lãi, và xin trả dần nợ gốc thành nhiều đợt trong thời hạn 48 tháng. Tuy nhiên, sau đó ông L không đến Toà án làm việc theo triệu tập của Toà án nên các bên không hoà giải với nhau được. Phía nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu ông L thanh toán ngay toàn bộ số nợ.

Theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 26/01/2018 của ông Văn Thanh L, bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S và lời trình bày của đại diện ngân hàng S, ông Văn Thanh L, cho thấy giao dịch giữa Ngân hàng S và ông Văn Thanh L là “Hợp đồng vay tài sản”, mức lãi suất hai bên thỏa thuận phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 3, khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và

Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam, hợp đồng có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 117, Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015 nên có hiệu lực thực hiện.

Về số tiền ông L còn nợ ngân hàng: theo lời trình bày của đại diện Ngân hàng Thương mại cổ phần S thì: Quá trình sử dụng thẻ, từ khi kích hoạt thẻ cho đến ngày 23/4/2024, ông L đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 3.607.416.71 đồng, ông L đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là 3.543.012.551 đồng, (bao gồm tiền mà ông L đã giao dịch, phí và lãi phát sinh trong kỳ thanh toán), sau đó ông L không tiếp tục thanh toán số tiền đã sử dụng và tiền lãi phát sinh cho Ngân hàng nữa. Tính đến ngày 23/4/2024, ông L còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 167.341.996đ (một trăm sáu mươi bảy triệu ba trăm bốn mươi mốt nghìn chín trăm chín mươi sáu đồng), trong đó bao gồm tiền nợ gốc là 97.371.440đồng và tiền lãi quá hạn là 69.970.556đồng.

Như vậy, phía ông L đã không thực hiện đúng nghĩa vụ theo hợp đồng đã ký giữa hai bên. Theo quy định tại Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự thì ông L phải có trách nhiệm trả nợ cho ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S nên đã có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và buộc ông L phải thanh toán số tiền còn nợ cho nguyên đơn.

[3] Về thời hạn thanh toán: Ông L đề nghị được miễn tiền lãi, và xin trả dần nợ gốc thành nhiều đợt trong thời hạn 48 tháng. Tuy nhiên, sau đó ông L không đến Toà án làm việc theo triệu tập của Toà án nên các bên không hoà giải với nhau được. Vì vậy Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S yêu cầu ông Văn Thanh L phải có trách nhiệm thanh toán ngay cho ngân hàng S toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 23/4/2024 là 167.341.996đ (một trăm sáu mươi bảy triệu ba trăm bốn mươi mốt nghìn chín trăm chín mươi sáu đồng), trong đó bao gồm tiền nợ gốc là 97.371.440đồng và tiền lãi quá hạn là 69.970.556đồng là có căn cứ chấp nhận.

[4] Căn cứ án lệ số 08/2016/AL về xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm thì:

“Đối với các khoản tiền vay của tổ chức Ngân hàng, tín dụng, ngoài khoản tiền nợ gốc, lãi vay trong hạn, lãi vay quá hạn, phí mà khách hàng vay phải thanh toán cho bên cho vay theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử sơ thẩm, thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này”. Nên ông Văn Thanh L còn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn trên phần nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong nợ.

[5] Về án phí Dân sự sơ thẩm: Ông Văn Thanh L phải chịu án phí dân sự là: 167.341.996₫ x 5% = 8.367.100đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S không phải nộp án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng;

Căn cứ Điều 417, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/8/2016 và công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;

Căn cứ Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016;

Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1/ Buộc ông Văn Thanh L phải thanh toán cho Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S tổng số tiền còn nợ là 167.341.996đ (một trăm sáu mươi bảy triệu ba trăm bốn mươi mốt nghìn chín trăm chín mươi sáu đồng), trong đó bao gồm tiền nợ gốc là 97.371.440đ (chín mươi bảy triệu ba trăm bảy mươi mốt nghìn bốn trăm bốn mươi đồng) và tiền lãi quá hạn là 69.970.556₫ (sáu mươi chín triệu chín trăm bảy mươi nghìn năm trăm năm mươi sáu đồng), theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 26/01/2018 được phê duyệt ngày 30/01/2018 giữa ông Văn Thanh L và Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S.

Thời hạn thanh toán: Thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2/ Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Văn Thanh L còn phải tiếp tục trả cho ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S thì lãi suất mà ông Văn Thanh L phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S.

3/ Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Văn Thanh L phải nộp án phí là: 8.367.100đồng (tám triệu ba trăm sáu mươi bảy nghìn một trăm đồng).

- Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S không phải nộp án phí, trả lại cho Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 3.219.570₫ (ba

triệu hai trăm mười chín nghìn năm trăm bảy mươi đồng) theo biên lai thu số AA/2023/0038654 ngày 06/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận A.

4/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.

5/ Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận A;
  • - Chi cục thi hành án dân sự Quận A;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Thị Hồng Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2024/DS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN A – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

  • Số bản án: 74/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN A – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger