TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 74/2023/HS-ST Ngày: 21-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trương Hữu Bình;
- Ông Hồ Đắc Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Võ Thế Duẩn - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 73/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn V, sinh năm 1980, tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 4/12; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1945 (đã chết); con bà Trương Thị X, sinh năm 1945 (đã chết); bị cáo có 04 anh, chị, em (lớn nhất sinh năm 1972, nhỏ nhất sinh năm 1986); vợ tên Nguyễn Thị T1, sinh năm 1985 (không rõ địa chỉ cư trú); có 01 con tên Nguyễn Quang L, sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Bùi Hữu H, sinh năm 1977; hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương. Có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị Thanh T2, sinh năm 1982; hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt tại phiên toà.
-Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Hoàng N. Vắng mặt tại phiên toà.
- Ông Ung Ngọc L1. Vắng mặt tại phiên toà.
- Chị Nguyễn Thị Kiều O. Vắng mặt tại phiên toà.
- Chị Nguyễn Ngọc Thanh T3. Vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 16/4/2023, Bùi Hữu H, Lê Hoàng N1, Ung Ngọc L1, Nguyễn Thị Thanh T2, Nguyễn Ngọc Thanh T3 tổ chức liên hoan ăn uống, ca hát tại nhà bà Nguyễn Thị Thanh T2 thuộc ấp C, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương. Cùng lúc này, Nguyễn Văn V chạy xe máy đến và ngồi nhậu (uống rượu) nói chuyện chung với H và những người khác. Trong lúc trò chuyện, H lấy tiền trong túi ra vừa khoe vừa dùng lời nói thô tục trước mặt V nên V giật xấp tiền trên tay H ném xuống đất. Sau đó, H cùng Nguyễn Ngọc T4 T3 nhặt tiền lại rồi giao cho H cầm. Bực tức vì bị ném tiền nên H dùng tay đấm vào mặt V thì bị V dùng tay đánh lại H thì được mọi người can ngăn, hai bên không gây ra thương tích gì cho nhau. Lúc này, V đi ra lấy xe máy định đi về thì H tiếp tục dùng lời lẽ thô thục chửi V nên V quay lại nhặt 01 viên gạch ống ở sân (kích thước dài khoảng 18 cm, một mặt rộng 08 cm, một mặt rộng 05 cm) rồi cầm viên gạch đập 01 cái vào đầu H, khi H té ngã xuống đất, V tiếp tục lấy một cây phản dùng để phát cỏ để ở tường nhà bà T2 vung lên đánh H thì lưỡi phản rơi ra, V lấy cán phản bằng gỗ, dài khoảng 80,5 cm có một đầu đường kính khoảng 03 cm, một đầu bị dập không xác định được kích thước đánh 04 đến 05 cái vào vùng vai phải và vùng ngực, sườn bên phải người H làm H bị thương tích và bất tỉnh. Thấy H nằm bất động và được mọi người can ngăn nên V lấy xe máy chạy về nhà. Bị hại H được bà T2 đưa đến bệnh viện để điều trị, đến ngày 21/4/2023 thì bị hại H ra viện.
Ngày 21/4/2023, Bùi Văn H1 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự (đơn ghi ngày 19/4/2023) gửi đến Cơ quan Công an.
Theo Giấy chứng nhận thương tích số 11/CN ngày 05/5/2023 của Bệnh viện Đ, thể hiện thương tích của Bùi Văn H1 như sau:
Vết thương vùng chẩm (đã kh âu); Gãy xương sườn 4,5,6,7,8,9; Gãy xương vai phải; tràn dịch màng phổi phải lượng vừa.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 385/2023/GĐPY ngày 26/6/2023 của Trung Tâm pháp y Sở Y tế tỉnh B đối với Bùi Văn H1 kết luận:
1. Các kết quả chính:
- Vết thương đầu vùng chẩm 3,5 x 4 cm, sẹo lành.
- Chấn thương ngực gãy xương sườn 4, 5, 6, 7, 8, 9 bên phải, gãy xương bả vai phải, đã can.
- Sây sát da vùng má trái và lưng phải đã lành.
2. Kết luận: Căn cứ Thông số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Bùi Hữu H tại thời điểm giám định là 18%, áp dụng phương pháp cộng tại thông tư.
3. Kết luận khác
Cơ chế hình thành thương tích:
- Vết thương đầu vùng chẩm: Chiều từ trên xuống, hướng từ sau ra trước, bờ không sắc gọn, khả năng do vật tày có cạnh gây ra.
- Chấn thương ngực gãy xương sườn 4, 5, 6, 7, 8, 9 bên phải, gãy xương bả vai phải. Chấn thương gẫy xương kín không có vết thương ngoài da, khả năng do vật tày gây ra.
- Sây sát da vùng má trái và lưng phải đã lành hiện không còn dấu tích nên không xác định được cơ chế hình thành thương tích.
Tại Cáo trạng số 67/CTr-VKS-DT ngày 26/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quan điểm và quyết định truy tố như Cáo trạng đối với bị cáo Nguyễn Văn V về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự và đề nghị:
Về hình phạt: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V từ 18 tháng đến 20 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng đã thu giữ gồm: 01 viên gạch ống (không nguyên vẹn kích thước dài khoảng 18 cm, một mặt rộng 08 cm, một mặt rộng 05 cm; 01 lưỡi phản bằng kim loại dài 51 cm, bản rộng lớn nhất 05 cm; 01 cán phản bằng gỗ, dài khoảng 80,5 cm có một đầu đường kính khoảng 03 cm, một đầu bị dập không xác định được kích thước. Quá trình điều tra xác định đây là vật dụng công cụ có sẵn tại nhà đương sự Nguyễn Thị Thanh T2, bị cáo V sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Đương sự T2 không có yêu cầu nhận lại và không yêu cầu bị cáo V bồi thường nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng để bảo quản và đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Nguyễn Văn V đã tự nguyện hỗ trợ chi phí điều trị thương tích và bồi thường tổn thất sức khỏe, tinh thần cho bị hại Bùi Hữu H với tổng số tiền 45.000.000 đồng. Bị hại H không có yêu cầu bị cáo V bồi thường gì khác nên không xem xét giải quyết.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Tại lời nói sau cùng, bị cáo trình bày: Bị cáo biết hành vi của mình là sai, chỉ vì uống rượu mà không làm chủ được hành vi nên bị cáo đã gây thương tích không đáng có cho bị hại H, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và xin lỗi bị hại H.
Tại phiên toà, bị hại H có ý kiến: Sự việc bị cáo V gây thương tích cho bị hại cũng có một phần lỗi của bị hại, do uống rượu (nhậu) mà hai bên đã không làm chủ được bản thân. Bị hại đã được bị cáo bồi thường tổng số tiền 45.000.000 đồng và không yêu cầu bồi thường gì thêm, bị hại xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo V.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D và Điều tra viên, Cơ quan Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và không bị ai khiếu nại gì về việc tiến hành các hoạt động tố tụng, thu thập chứng cứ đối với vụ án nên toàn bộ hoạt động tố tụng, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn V thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, cụ thể: Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 16/4/2023, tại nhà bà Nguyễn Thị Thanh T2 thuộc ấp C, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Văn V có hành vi dùng 01 viên gạch ống (kích thước dài khoảng 18 cm, một mặt rộng 08 cm, một mặt rộng 05 cm) đập 01 cái vào đầu bị hại H; khi bị hại H té ngã xuống đất, bị cáo V tiếp tục lấy 01 cán phản bằng gỗ, dài khoảng 80,5 cm có một đầu đường kính khoảng 03 cm, một đầu bị dập không xác định được kích thước đánh 04 đến 05 cái vào vùng vai phải và vùng ngực, sườn bên phải của bị hại H. Hậu quả là bị hại Bùi Hữu H thương tích với tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 18%. Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Văn V tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo, của bị hại, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người làm chứng trong quá trình điều tra cũng như các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Do đó, Cáo trạng số 67/CT-VKS-DT ngày 26/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn V về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ và đúng định pháp luật.
[3] Hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn V là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có đủ nhận thức để biết hành vi gây thương tích đối với người khác là vi phạm pháp luật, thế nhưng bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Điều đó thể hiện sự xem thường pháp luật của bị cáo, làm ảnh hưởng lớn đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Mặc dù bị cáo dùng hung khí nguy hiểm để tác động vào vùng đầu, vùng vai phải và vùng ngực, sườn bên phải của bị hại H, tuy nhiên hành vi của bị cáo không có sự chuẩn bị từ trước, là nhất thời bột phát, không nhằm mục đích tước đoạt đi mạng sống của bị hại. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
[4] Để đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm mà đặc biệt là tội xâm phạm về sức khỏe con người trên địa bàn huyện D, tỉnh Bình Dương nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung nên cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt nghiêm khắc để tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm có điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân tốt, cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo:
[5.1] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại với tổng số tiền 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng); thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tại phiên tòa, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đồng thời bị hại cũng có lỗi một phần dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5.2.] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại H đã được bị cáo V bồi thường tổng số tiền 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng) và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7] Xét ý kiến trình bày của bị hại H tại phiên tòa, ý kiến trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà T2 trong quá trình tố tụng là phù hợp nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
[8] Về xử lý vật chứng và biên pháp tư pháp: Đối với các vật chứng đã thu giữ là 01 viên gạch ống (không nguyên vẹn kích thước dài khoảng 18 cm, một mặt rộng 08 cm, một mặt rộng 05 cm; 01 lưỡi phản bằng kim loại dài 51 cm, bản rộng lớn nhất 05 cm; 01 cán phản bằng gỗ, dài khoảng 80,5 cm có một đầu đường kính khoảng 03 cm, một đầu bị dập không xác định được kích thước. Đây là vật dụng, công cụ có sẵn tại nhà bà T2 được bị cáo V sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Bà T2 không có yêu cầu nhận lại và không yêu cầu bị cáo V bồi thường nên cần tịch thu tiêu hủy.
[9] Ý kiến luận tội của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều khoản truy tố, xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp đề nghị áp dụng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Riêng về mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo V là nhẹ, chưa tương xứng với tính chất hành vi, mức độ phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo cao hơn mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị.
[10] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 106, 135, 136, 299, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; các Điều 38, 46, 47 và các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bắt để thi hành án.
2. Trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 viên gạch ống (không nguyên vẹn kích thước dài khoảng 18 cm, một mặt rộng 08 cm, một mặt rộng 05 cm; 01 lưỡi phản bằng kim loại dài 51 cm, bản rộng lớn nhất 05 cm; 01 cán phản bằng gỗ, dài khoảng 80,5 cm có một đầu đường kính khoảng 03 cm, một đầu bị dập không xác định được kích thước.
Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/12/2023 giữa Công an huyện D và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải nộp số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
5. Về quyền kháng cáo:
5.1. Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án (ngày 21/12/2023).
5.2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tùng |
Bản án số 74/2023/HS-ST ngày 21/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 74/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Vu phạm tội Cố ý gây thương tích
