Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHONG THỔ

TỈNH LAI CHÂU

Bản án số: 74/2024/HS-ST

Ngày 21 tháng 5 năm 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Chẻo Lao U;

Ông Lý Minh Quý.

- Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Đoàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 75/2024/TLHS-ST, ngày 19 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXXST-HS, ngày 08 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Vàng A T, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 01/01/1960, tại: huyện P, tỉnh Lai Châu; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở trước khi bị bắt: Bản Sin S, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 0/10 (Không biết chữ); tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Vàng A K, đã chết; mẹ đẻ: Chang Thị N, sinh năm 1940; vợ: Sùng Thị M, sinh năm 1968; bị cáo có 06 con, con lớn nhất sinh năm 1983, con nhỏ nhất sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/01/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người phiên dịch: Anh Phàn A K1, sinh năm 2001, địa chỉ: Bản L, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Sùng A C, sinh năm 2005, địa chỉ: Bản S, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt không có lý do.

Ông Sùng A C1, sinh năm 1976, địa chỉ: Bản S, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào đầu tháng 11 năm 2023, tại khu vực chợ S, thành phố L, Vàng A T mua được 01 gói Heroine với giá 250.000 đồng, của một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 60 tuổi không rõ nhân thân, lai lịch. Khoảng hơn 14 giờ, ngày 03/01/2024, khi T đang ở nhà thì có Sùng A C1 đến, sau đó có Sùng A C đến. Qua nói chuyện, biết T có H nên C1 hỏi mua 50.000 đồng, C cũng hỏi mua 200.000 đồng, T đồng ý bán. T nhận tiền của C1 và C rồi lấy gói Heroine mua được ra cấu lấy một ít đưa cho C để Chư chia cho C1. Số H còn lại, T cất giấu vào đầu giường ngủ của T. Nhận gói Heroine, C1 lên giường ngồi xin T sử dụng trong nhà và được T đồng ý, sau đó, C1 cho T sử dụng cùng. Thấy C1 và T đang ngồi trên giường sử dụng Heroine, C không hỏi xin Thếnh mà tự cấu một ít Heroine vừa mua được ra sử dụng tại nhà T, số H còn lại Chư gói lại rồi cất giấu vào túi quần đang mặc, T nhìn thấy C sử dụng nhưng vẫn để mặc. Hồi 15 giờ cùng ngày, khi C1, T, C vừa sử dụng Heroien xong và đang ngồi trên giường nhà T thì bị công an phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng, gồm: Thu của Vàng A T: 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu trắng và số tiền 250.000 đồng. Thu của Sùng A C: 01 gói Heroine, được gói ngoài bằng mảnh nilon màu trắng, 01 chiếc bật lửa màu đỏ và 01 một mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy. Thu của Sùng A C1: 01 chiếc bật lửa màu tím. T khai nhận số tiền 250.000 đồng là tiền T bán Heroine cho C2 và C.

Tại bản Kết luận giám định số: 02/KL-GĐVV, ngày 03/01/2024, của giám định viên tư pháp theo vụ việc, kết luận: Số chất bột màu trắng trong gói nilon màu trắng thu giữ của Vàng A T, có khối lượng 0,12 gam.

Số chất bột màu trắng trong gói nilon màu trắng thu giữ của Sùng A C, có khối lượng 0,02 gam.

Kết luận giám định số: 126/KL-KTHS, ngày 07/01/2024, của Phòng K2 Công an tỉnh L, Kết luận: 02 (Hai) Mẫu chất bột, màu trắng (ký hiệu M1, M2) gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số: 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022, của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Kết luận giám định số: 127/KL-KTHS, ngày 07/01/2024, của Phòng K2 Công an tỉnh L, kết luận: 01 (một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) có mã số hiệu là: HQ 18892607 và 01 (Một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng) có mã hiệu là: PN 17628826 gửi đến giám định đều là tiền thật.

Tại bản Cáo trạng số: 30/CT-VKS, ngày 19/4/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu để xét xử bị cáo Vàng A T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 256 của Bộ luật Hình sự.

2

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, không có tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng. Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Vàng A T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 256 của Bộ luật Hình sự. Về hình phạt, áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vàng A T từ 07 (Bảy) năm, 03 (Ba) tháng đến 07 (Bảy) năm, 06 (Sáu) tháng tù; áp dụng khoản 1 Điều 256, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vàng A T từ 02 (Hai) năm, 03 (Ba) tháng đến 02 (Hai) năm, 06 (Sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội theo Điều 55 của Bộ luật Hình sự. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 251 và khoản 3 Điều 256 của Bộ luật Hình sự. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 250.000 đồng. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng, gồm: 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ; 01 chiếc bật lửa ga màu tím; 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy; các mảnh nilon cũ là vỏ gói Heroine; các phong bì niêm phong vật chứng. Đối với toàn bộ số Heroine thu giữ trong vụ án đã gửi đi giám định, không hoàn lại mẫu vật giám định nên không đề cấp xử lý. Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa đều đã có lời khai trong quá trình điều tra, được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng nên Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về chứng cứ, hành vi mà bị cáo Vàng A T đã thực hiện:

3

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai của những người làm chứng trong quá trình điều tra, truy tố, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và gửi đi giám định, các kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng hơn 14 giờ, ngày 03/01/2024, Vàng A T đã bán H cho Sùng A C1 lấy số tiền 50.000 đồng, bán H cho Sùng A C lấy số tiền 200.000 đồng. Sau khi nhận Heroine của T, C1 có hỏi xin phép T cho C1 sử dụng Heroine trong nhà T thì được T đồng ý. Cú đã sử dụng Heroine bằng hình thức hít tại nhà của T và cho T sử dụng cùng. Chư thấy T và C1 sử dụng Heroine thì C tự ý lấy Heroine ra sử dụng tại nhà T, T nhìn thấy nhưng không nói gì, để mặc cho C sử dụng. Vào hồi 15 giờ, ngày 03/01/2024, khi T, C1, C vừa sử dụng Heroine xong và đang ngồi tại nhà T thì bị phát hiện, bắt quả tang. Qua các kết quả giám định xác định: Số chất bột khô màu trắng thu giữ được của Vàng A T, Sùng A C là ma túy, loại Heroine. Số Heroine thu giữ của Vàng A T, có khối lượng 0,12 gam. Số Heroine thu giữ của Sùng A C, có khối lượng 0,02 gam. Do bị cáo đã bán H cho C1 và C nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với số Heroine thu được của bị cáo và C, tổng khối lượng là 0,14 gam.

Quá trình điều tra, lời khai của những người làm chứng phù hợp với lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, tính chất tội phạm rất nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được rõ H là một loại ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân phát sinh tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trên địa bàn; hành vi mua bán trái phép chất ma túy, chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 256 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 256 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Những tình tiết liên quan đến vụ án:

Đối với người đàn ông đã bán Heroine cho bị cáo vào tháng 11/2023, bị cáo không biết rõ nhân thân, lai lịch cụ thể, ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu, chứng cứ khác nên không có cơ sở điều tra xử lý đối với người đàn ông bán Heroine cho bị cáo trọng vụ án này.

Đối với Sùng A C, quá trình điều tra xác định khi C được T đưa cho H, C đã chia Heroine cho C1 nhằm mục đích lấy được phần Heroine mà C đã mua của T. Chư không có sự bàn bạc, thống nhất gì với T, cũng không được hưởng lợi gì từ hành vi này nên C không đồng phạm với T. Do khối lượng H còn lại của C là 0,02 gam, không đủ khối lượng theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, C chưa có tiền án, tiền sự gì, nên Công an huyện P đã ra quyết định xử lý hành chính đối với Sùng A C về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 23 của Nghị định số: 144/2021/NĐ-CP, ngày 31/12/2021, của Chính P, quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; Phòng chống tệ nạn xã hội; Phòng cháy chữa cháy; Phòng, chống bạo lực gia đình.

Đối với Sùng A C1, sau khi mua được H, C1 có cho T sử dụng Heroine cùng, C1 và T là hai người nghiện cùng nhau sử dụng Heroine nên không xác định đây là rủ rê, lôi kéo người khác sử dụng ma túy, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 255, Điều 258 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, Sùng A C1 đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, Công an huyện P đã ra Quyết định xử lý hành chính đối với Sùng A C1 về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 điều 23 của Nghị định số: 144/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021, của Chính P, quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; Phòng chống tệ nạn xã hội; Phòng cháy chữa cháy; Phòng, chống bạo lực gia đình.

Hành vi tự ý sử dụng trái phép chất ma túy của Sùng A C tại nhà Vàng A T, T biết nhưng để mặc C sử dụng chưa đủ yếu tố cấu thành tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 256 của Bộ luật Hình sự. Việc T đồng ý cho C1 sử dụng trái phép chất ma túy và việc T để mặc cho C tự ý sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của T chưa thỏa mãn cấu thành tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, T chỉ phải chịu trách nhiệm về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 256 Bộ luật Hình sự đối với hành vi đồng ý cho C1 sử dụng Heroine tại nhà của mình.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo không biết chữ, hiểu biết xã hội và kiến thức pháp luật có phần hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi của bị cáo gây ra cho xã hội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để cải tạo và nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật cho bị cáo, đồng thời để góp phần răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Bị cáo phạm hai tội nên Hội đồng xét xử tổng hợp hình phạt của cả hai tội theo Điều 55 của Bộ luật Hình sự.

5

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công việc ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 251, khoản 3 Điều 256 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng: Số tiền 250.000 đồng, là tiền do bị cáo bán trái phép Heroine mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Các vật chứng còn lại, gồm: 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy; 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ; 01 chiếc bật lửa ga màu tím; các mảnh nilon cũ; các phong bì niêm phong vật chứng, là những vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Số Heroine thu giữ của bị cáo đã gửi toàn bộ đi giám định, không hoàn lại mẫu vật giám định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo xin được miễn nộp tiền án phí nên căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cần miên án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

1. Bị cáo Vàng A T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 256 của Bộ luật Hình sự.

2. Về hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vàng A T: 07 (Bảy) năm, 03 (Ba) tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 256; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vàng A T: 02 (Hai) năm, 03 (Ba) tháng tù.

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của cả hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt: 9 (Chín) năm, 06 (Sáu) tháng tù.

Thời hạn tù được tính từ ngày 03/01/2024.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 250.000 đồng thu giữ của bị cáo.

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng, gồm: 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy; 02 chiếc bật lửa ga; các mảnh nilon cũ; các phong bì niêm phong vật chứng.

(Toàn bộ vật chứng hiện đang được lưu tại Kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Tình trạng vật chứng mô tả cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 08 giờ 00 phút, ngày 08/5/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu).

6

4. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo uy định của pháp luật/.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Sở Tư pháp;
  • - VKSND huyện Phong Thổ;
  • - CA huyện Phong Thổ (CQ CSĐT, THAHS);
  • - THADS huyện Phong Thổ;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu: HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Hạnh

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về mua bán trái phép chất ma túy và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 74/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo TT TP CMT
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger