TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10-PHÚ THỌ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Số: 74/2025/DS - ST Ngày 28 tháng 11 năm 2025 “V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10-PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hoàng Tuấn Mạnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Văn Thông và bà Vũ Thị Thanh Hương
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Anh - Thư ký, Tòa án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 78/2025/TLST- DS ngày 14 tháng 5 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2025/QĐXXST - DS ngày 29 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần T (T1); địa chỉ: Tòa nhà T, số E L, phường H, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Minh P Chủ tịch Hội đồng quản trị; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Vũ L – Phó giám đốc trung tâm X (theo giấy ủy quyền số 05/2025/UQ-TPB.HĐQT ngày 10/01/2025); Người đại diện theo ủy quyền lại: ông Trần Trung K, ông Nguyễn Quang Đ, ông Đỗ Đình H, ông Phạm Cao S, ông Lê Quang H1 Nhân viên xử lý nợ (theo giấy ủy quyền số 3071/2025/GUQ-TPB.CM ngày 04/9/2025); (Ông Phạm Cao S có mặt).
Bị đơn: Ông Nguyễn Phạm Việt H2, sinh năm 1998; bà Kiều Thị Thu H3, sinh năm 1996; Cùng có địa chỉ: Tổ dân phố L, xã T, tỉnh Phú Thọ. (đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 31 tháng 3 năm 2025, lời trình bày trong bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay người đại diện của Ngân hàng TMCP T trình bày như sau:
Ông Nguyễn Phạm Việt H2 và bà Kiều Thị Thu H3 đã ký Hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ô tô số 115/2021/HDTD/TTKD.OTO.HN.VPC/01 ngày 12/03/2021 với số tiền vay là 400.000.000đ; Mục đích: Vay mua xe ô tô tiêu dùng; thời hạn cho vay 72 tháng kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân; lãi suất cho vay theo lãi suất linh hoạt kể từ ngày giải ngân đến ngày 12/03/2022 là 8,2%/năm, lãi suất áp dụng cho thời gian tiếp theo đến ngày 12/3/2027 được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần và bằng lãi suất tiết kiệm 12 tháng của T1 tại thời điểm điều chỉnh biên độ 3.5%/năm.
Trên cơ sở Hợp đồng cho vay nêu trên, ngày 12/03/2021 T1 đã giải ngân tiền vay cho ông Nguyễn Phạm Việt H2 và bà Kiều Thị Thu H3 vay tổng số tiền là 400.000.000đ (bằng chữ: Bốn trăm triệu đồng)
Để bảo đảm cho nghĩa vụ thanh toán khoản vay nêu trên, ông Nguyễn Phạm Việt H2 và bà Kiều Thị Thu H3 đã tự nguyện thế chấp tài sản là: 01 Xe ô tô mang nhãn hiệu: MAZDA 3, màu: Đỏ, số khung: RN2BN4AA6KM011697, số máy: P520578424, BKS: 88A-270.62 theo Giấy Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 88 022366 do Phòng CSGT – Công an tỉnh V cấp ngày 11/03/2021 cho ông Nguyễn Phạm Việt H2. Việc thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình trả nợ vay, ông Nguyễn Phạm Việt H2 và bà Kiều Thị Thu H3 đã vi phạm nghĩa vụ không thanh toán nợ cho T1 từ ngày 26/4/2023 cho đến nay.
Tính đến ngày 28/11/2025, ông Nguyễn Phạm Việt H2 và bà Kiều Thị Thu H3 đã thanh toán cho T1 tổng số tiền 216.532.490 đồng (bao gồm nợ gốc: 144.444.456 đồng, nợ lãi: 72.088.034 đồng). Còn nợ T1 số tiền cụ thể là nợ gốc: 255.555.544 đồng, nợ lãi trong hạn: 55.022.141 đồng; lãi quá hạn 36.991.167 đồng; lãi phạt chậm trả lãi 8.451.535 đồng, Tổng cộng: 356.020.387 đồng.
T1 đã làm việc, gửi thông báo và tạo điều kiện cho ông Nguyễn Phạm Việt H2 và bà Kiều Thị Thu H3 thanh toán nợ nhưng T1 không nhận được sự hợp tác trả nợ từ ông Nguyễn Phạm Việt H2 và bà Kiều Thị Thu H3. Việc vi phạm nghĩa vụ của ông Nguyễn Phạm Việt H2 và bà Kiều Thị Thu H3 như trên đã ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của T1. Ngân hàng TMCP T đề nghị Quý Tòa giải quyết những yêu cầu sau đối với ông Nguyễn Phạm Việt H2 và bà Kiều Thị Thu H3:
Nay buộc ông Nguyễn Phạm Việt H2 và bà Kiều Thị Thu H3 thanh toán ngay cho T1 khoản nợ phát sinh từ Hợp đồng cho vay cùng các khế ước giải ngân/nhận nợ, các văn bản tín dụng khác kèm theo đã ký với T1, với tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 28/11/2025 là: 356.020.387 đồng trong đó nợ gốc: 255.555.544 đồng, nợ lãi trong hạn: 55.022.141 đồng; lãi quá hạn 36.991.167 đồng; lãi phạt chậm trả lãi 8.451.535 đồng.
Buộc ông Nguyễn Phạm Việt H2 và bà Kiều Thị Thu H3 tiếp tục thanh toán khoản lãi suất quá hạn là 15,9%/năm (150% x 10,6%) phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán và lãi phạt chậm trả lãi là 10% đối với số tiền lãi trong hạn chưa thanh toán kể từ ngày 29/11/2025 cho đến khi thanh toán hết các nghĩa vụ cho T1.
Trong trường hợp kể từ ngày Bản án/Quyết định của Tòa án có hiệu lực mà ông Nguyễn Phạm Việt H2 và bà Kiều Thị Thu H3 không thanh toán toàn bộ khoản nợ cho T1 thì T1 có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là 01 Xe ô tô mang nhãn hiệu: MAZDA 3, màu: Đỏ, số khung: RN2BN4AA6KM011697, số máy: P520578424, BKS: 88A-270.62 theo Giấy Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 88 022366 do Phòng CSGT – Công an tỉnh V cấp ngày 11/03/2021 cho ông Nguyễn Phạm Việt H2 và tất cả các phụ tùng, thiết bị, vật phụ... được lắp thêm, thay thế vào tài sản thế chấp đều thuộc tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Phạm Việt H2 và bà Kiều Thị Thu H3 đối với T1. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Nguyễn Phạm Việt H2 và bà Kiều Thị Thu H3 có nghĩa vụ phải tiếp tục trả hết khoản nợ cho T1.
Đối với bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật về việc tống đạt các văn bản tố tụng đối với bị đơn và nhắn tin cho bị đơn trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng không đến Tòa án làm việc, không có lời khai để đưa ra quan điểm giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiêm sát nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ phát biêu quan điểm: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đông xét xử đã thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định; nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng, các Điều 274, 275, 280, 335, 336, 339, 342, 463, 466 Bộ luật dân sự, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uy ban Thường vụ Quốc hội quy dịnh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP T. Buộc ông Nguyễn Phạm Việt H2 và bà Kiều Thị Thu H3 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng T2 yêu cầu. Và xử lý tài sản thế chấp theo quy định.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Nguyễn Phạm Việt H2 và bà Kiều Thị Thu H3 có hộ khẩu thường trú tại xã T, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Ngân hàng TMCP T khởi kiện ông Nguyễn Phạm Việt H2 và bà Kiều Thị Thu H3 tại Tòa án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ là phù hợp và Tòa án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Về quan hệ tranh chấp: Mục đích bị đơn vay tiền để mua ô tô, không nhằm mục đích kinh doanh, phát sinh lợi nhuận nên có căn cứ xác định đây là vụ án tranh chấp về hợp đồng tín dụng. Do vậy HĐXX xác định đây là tranh chấp dân sự về hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Việc bị đơn vắng mặt tại phiên tòa: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn (Niêm yết tại nơi cư trú, thông báo qua người thân, đăng báo), tiến hành xác minh tại nơi bà H3 ở tại Phường H, nhưng bị đơn vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do và không thuộc trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung yêu cầu khởi kiện:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Đối với Hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ô tô số 115/2021/HDTD/TTKD.OTO.HN.VPC/01 ngày 12/03/2021 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần T và ông Nguyễn Phạm Việt H2 và Kiều Thị Thu H3; Ngân hàng đã giải ngân cho ông H2, bà H3 số tiền 400.000.000 Đồng vào ngày 12/03/2021; mục đích là tham toán tiền mua ô tô; với lãi suất ưu đãi kể từ ngày giải ngân đến ngày 12/3/2022 (trong 1 năm đầu) là 8.2%/năm, lãi suất áp dụng tiếp theo đến ngày 12/03/2027 lãi suất được điều chỉnh 03 tháng 1 lần và bằng lãi suất tiết kiệm 12 tháng tại thời điểm điều chỉnh (+) biên độ 3.5%/ năm.
Theo quy định tại điều kiện điều khoản chung về cho vay và thế chấp xe ô tô tại mục 2.2 của điều 2 quy định lãi suất nợ gốc quá hạn là 150/% lãi trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả lãi là 10%/năm.
Xét thấy hợp đồng cho vay được được ký kết trên cơ sở tự nguyện của các bên, nội dung thỏa thuận giữa các bên không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội; thỏa thuận về lãi suất và cách tính tiền lãi vay được ghi nhận trong hợp đồng, điều kiện điều khoản chung về cho vay và thế chấp xe ô tô là phù hợp với quy định của pháp luật, cụ thể: Khoản 2, khoản 3 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng, quy định về lãi suất cho vay và cách tính tiền lãi vay; khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự và Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, quy định về lãi suất nợ lãi chậm trả. Như vậy, Hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ô tô số 115/2021/HDTD/TTKD.OTO.HN.VPC/01 ngày 12/03/2021 đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật nên phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên ngay sau khi ký kết hợp đồng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng vay, ông H2, bà H3 đã thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, chỉ trả được một khoản nợ gốc, nợ lãi, sau đó đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng theo nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng cho vay đã ký kết, kể từ ngày 26/4/2023 không thanh toán cho Ngân hàng khoản tiền nào, ông H2, bà H3 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng, việc vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi do lỗi hoàn toàn thuộc về bên vay.
Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng yêu cầu H2, bà H3 phải trả tổng số tiền gốc, lãi còn nợ tính đến ngày 28/11/2025 là tổng số tiền là 356.020.387 đồng; trong đó nợ gốc: 255.555.544 đồng, nợ lãi trong hạn: 55.022.141 đồng; lãi quá hạn 36.991.167 đồng; lãi phạt chậm trả lãi 8.451.535 đồng là phù hợp theo quy định tại Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015; nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 và Điều 91 và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 “Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng” nên được chấp nhận.
Xét đối với yêu cầu của Ngân hàng buộc ông H2, bà H3 tiếp tục thanh toán số tiền lãi suất quá hạn phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán và lãi phạt chậm trả lãi kể từ ngày 29/11/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ nêu trên:
Trong các hợp đồng vay các bên đã ký kết và điều kiện điều khoản chung về cho vay và thế chấp xe ô tô các bên có thỏa thuận lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn, lãi suất chậm trả. Trong quá trình thực hiện hợp đồng do H2, bà H3 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ, do đó H2, bà H3 phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong là phù hợp theo quy định tại Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất và phạt vi phạm nên được chấp nhận.
Xét Hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ô tô số 115/2021/HDTD/TTKD.OTO.HN.VPC/01 ngày 12/03/2021 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần T và ông Nguyễn Phạm Việt H2 và Kiều Thị Thu H3:
Để bảo đảm cho khoản vay tại hợp đồng cho vay, ông H2, bà H3 đã tự nguyện thế chấp tài sản là xe ô tô mang nhãn hiệu: MAZDA 3, màu: Đỏ, số khung: RN2BN4AA6KM011697, số máy: P520578424, BKS: 88A-270.62 theo Giấy Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 88 022366 do Phòng CSGT – Công an tỉnh V cấp ngày 11/03/2021 cho ông Nguyễn Phạm Việt H2. Mục đích ông H2, bà H3 ký các hợp đồng này để đảm bảo cho số tiền vay tại Ngân hàng và việc ký kết là tự nguyện do đó các hợp đồng này có hiệu lực pháp luật. Vì vậy trường hợp bên vay không trả nợ, N hành có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án bán phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Toà án tiến hành xác minh hiện nay chiếc xe đang thế chấp không là vật chứng, hay tang vật trong vụ án nào, không chuyển nhượng sang tên cho ai khác.
Trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện của nguyên đơn đề nghị Toà án không tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp và tự chịu trách nhiệm đối với tài sản thế chấp trong trường hợp phải xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Về chi phí tố tụng: Ngân Hàng tự nguyện chịu, không yêu cầu toà án xem xét giải quyết.
Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc ông H2, bà H3 phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm số tiền 356.020.387 đồng x 5% = 17.801.019 đồng.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 235; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ các Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Căn cứ các Điều 117, 118, 119, 274, 275, 280, 299, 317, 318, 319, 323, 463, 466 Bộ luật dân sự,
Căn cứ Nghị quyết số 01/2029/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tôi cao, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần T.
- Buộc ông Nguyễn Phạm Việt H2 và Kiều Thị Thu H3 phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần T số tiền gốc lãi tính đến ngày 28/11/2025 là 356.020.387 đồng (Ba trăm năm mươi sáu triệu, không trăm hai mươi nghìn, ba trăm tám mươi bảy đồng).
Trong đó tiền gốc: 255.555.544 đồng, lãi trong hạn: 55.022.141 đồng, lãi quá hạn: 36.991.167 đồng, lãi chậm trả lãi: 8.451.535 đồng.
Kể từ ngày 29/11/2025, ông Nguyễn Phạm Việt H2 và Kiều Thị Thu H3 còn phải tiếp tục trả lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán 255.555.544 đồng với mức lãi suất quá hạn là 15,9%/năm và trả lãi đối với số tiền lãi trong hạn chưa thanh toán 55.022.141 đồng với mức lãi phạt chậm trả là 10%/năm cho đến khi thanh toán xong.
Kể từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật, ông Nguyễn Phạm Việt H2 và Kiều Thị Thu H3 không trả hoặc trả không đầy đủ số tiền nêu trên thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần T có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thực hiện phát mại tài sản bảo đảm theo Hợp đồng cho vay kiêm thế chấp Xe ô tô mang nhãn hiệu: MAZDA 3, màu: Đỏ, số khung: RN2BN4AA6KM011697, số máy: P520578424, BKS: 88A-270.62 theo Giấy Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 88 022366 do Phòng CSGT Công an tỉnh V cấp ngày 11/03/2021 cho ông Nguyễn Phạm Việt H2 và tất cả các phụ tùng, thiết bị, vật phụ... được lắp thêm, thay thế vào tài sản thế chấp đều thuộc tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Phạm Việt H2 và Kiều Thị Thu H3 đối với Ngân hàng thương mại cổ phần T. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Nguyễn Phạm Việt H2 và Kiều Thị Thu H3 có nghĩa vụ phải tiếp tục trả hết khoản nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần T.
Về án phí: Ông Nguyễn Phạm Việt H2 và bà Kiều Thị Thu H3 phải nộp 17.801.019 đồng; làm tròn là 17.801.000 đồng (Mười bảy triệu tám trăm linh một nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả Ngân hàng thương mại cổ phần T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 8.192.000đồng (Tám triệu một trăm chín mươi hai nghìn đồng) tại biên lai số 0002306 ngày 07 tháng 5 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Lạc nay là Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Tuấn Mạnh |
Bản án số 74/2025/DS - ST ngày 28/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10-PHÚ THỌ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 74/2025/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10-PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân Hàng TP khởi kiện đòi tiền H và H1
