Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2025/HS - ST

Ngày 23 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Tiến Thấn và Ông Nguyễn Ngọc Vịnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Chương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2025/QĐXXST-HS, ngày 09 tháng 6 năm 2025, đối với:

1. Bị cáo: Phạm Thị T; Sinh ngày 02/11/1971 tại Thái Bình

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Nam Bi, xã Tân Hòa, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình;

Chỗ ở: Số nhà 113, ngõ 10, khu An Bình, thị trấn Vũ Thư, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Nhân viên Công ty TNHH M; trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Quang T1 ( đã chết) và bà Vũ Thị B; Có 02 con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 2000.

Nhân thân: bố bị cáo là thương binh hạng 3/4. Ngày 09/8/1997 ông Phạm Quang T1 được Chủ tịch N tặng thưởng Huy chương Kháng chiến hạng Nhì.

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, “ có mặt”.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Công ty TNHH M. Địa chỉ: Tầng B, Tòa nhà M, G H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông RAJEEV KUMAR

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lương Thế H, sinh năm 1983. Địa chỉ: thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.

- Bà Vũ Thị T2, sinh năm 1957. Địa chỉ: tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình;

- Bà Lại Thị D, sinh năm 1966. Địa chỉ: thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình;

- Bà Lê Thị L, sinh năm 1958. Địa chỉ: tổ A - A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

3. Người làm chứng:

Chị Tạ Thị Kim H1, sinh năm 1970. Địa chỉ: thôn K, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình.

( ông H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ tháng 06/2015 đến tháng 12/2024, Phạm Thị T làm đại lý bảo hiểm của Công ty TNHH M (gọi tắt Công ty M), mã đại lí là U7928. Nhiệm vụ tư vấn cho khách hàng về các gói bảo hiểm; giải thích với khách hàng về quyền lợi bảo hiểm; thu phí bảo hiểm khi khách hàng ký hợp đồng; bàn giao hợp đồng bảo hiểm cho khách hàng; hỗ trợ khách hàng làm các thủ tục liên quan đến quyền lợi tham gia bảo hiểm, điều chỉnh hợp đồng bảo hiểm khi có yêu cầu. Trong quá trình chăm sóc, hỗ trợ khách hàng giải quyết quyền lợi bảo hiểm, với mục đích muốn tăng uy tín với khách hàng, từ tháng 6/2024 đến tháng 11/2024 lợi dụng việc Công ty M không yêu cầu khách hàng nộp giấy tờ gốc Phạm Thị T đã làm giả giấy ra viện của 3 khách hàng sau đó gửi hình ảnh giấy ra viện giả cho Công ty M để giúp khách hàng được nhận tiền thanh toán bảo hiểm trái quy định, cụ thể:

1. Trường hợp khách hàng bà Vũ Thị T2: Bà T2 là khách hàng mua bảo hiểm của Công ty M theo hợp đồng bảo hiểm số 2815660376 ngày 31/3/2017. Từ ngày 22/6/2024 đến ngày 28/6/2024, bà T2 nhập viện điều trị nội trú tại khoa Nội - Bệnh viện đa khoa huyện V, tỉnh Thái Bình. Ngày 28/6/2024 bà T2 ra viện được Bệnh viện đa khoa huyện V cấp 01 Giấy ra viện, trên Giấy ra viện phần Chẩn đoán ghi: F03-Sa sút trí tuệ không biệt định; H81.9-Rối loạn chức năng tiền đình, không đặc hiệu; I20-Cơn đau thắt ngực ổn định; G47-Rối loạn giấc ngủ. Sau đó, bà T2 đưa G ra viện cho T để làm thủ tục được hưởng quyền lợi bảo hiểm. Khi nhận giấy ra viện, T thấy mục “Chẩn đoán” của giấy ra viện ghi “Rối loạn chức năng tiền đình” thuộc danh mục bệnh không được thanh toán quyền lợi bảo hiểm nên T đã photo Giấy ra viện của bà T2 thành nhiều bản, dùng kéo cắt các phần chữ tại mục “Chẩn đoán” của Giấy ra viện thành các phần riêng biệt gồm “I20-Cơn đau”; “thắt ngực ổn định”; “F03-Sa sút trí tuệ không biệt định”; “G47-Rối loạn giấc ngủ”, Tươi cắt phần chữ ký, dấu chức danh của T3 khoa bà Lăng Thị Vân A để khi photo dưới phần “Trưởng khoa” sẽ không còn chữ ký và dấu chức danh này nữa. Tươi cắt phần chữ “16 giờ 00 phút ngày 28 tháng”, “THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ” trên 01 giấy ra viện khác không bị đè hình dấu tròn của bệnh viện. Sau đó T lấy 01 bản photo Giấy ra viện dùng keo dính dán các phần chữ đã cắt (“I20-Cơn đau”; “thắt ngực ổn định”; “F03-Sa sút trí tuệ không biệt định”; “G47-Rối loạn giấc ngủ”) đè lên dòng chữ tại mục “Chẩn đoán” nhằm che đi nội dung chẩn đoán giấy ra viện của bà T2, mục “Chẩn đoán” sẽ có nội dung “I20-Cơn đau thắt ngực ổn định; F03-Sa sút trí tuệ không biệt định; G47-Rối loạn giấc ngủ” không còn nội dung H81.9-Rối loạn chức năng tiền đình, không đặc hiệu. Tiếp theo Tươi dán phần chữ “16 giờ 00 phút ngày 28 tháng” và “THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ” đã chuẩn bị đè lên phần chữ “16 giờ 30 phút ngày 28 tháng” và “THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ” trên bản photo giấy ra viện để che đi phần chữ đã được đóng dấu tròn của bệnh viện. Tươi dùng giấy trắng dán che phần giấy có hình dấu tròn của Bệnh viện đa khoa huyện V, chữ ký và dấu chức danh của Phó giám đốc ông Doãn Trường T4. Sau khi đã cắt dán các phần chữ, dùng giấy trắng dán đè lên các phần hình dấu, chữ ký, dấu chức danh như trên, T sử dụng máy photo của Văn phòng Công ty M chi nhánh tỉnh T (địa chỉ tại số D L, phường Đ, thành phố T) pho to giấy ra viện đã được cắt, dán thành 02 bản. Bản giấy ra viện này chưa có chữ ký của Thủ trưởng đơn vị, Trưởng khoa và chưa được đóng dấu tròn của Bệnh viện đa khoa huyện V, T đã tự ký chữ ký của ông Doãn Trường T4 và bà Lăng Thị Vân A vào 02 bản pho to giấy ra viện trên rồi mang đến Phòng văn thư Bệnh viện đa khoa huyện V đưa cho cán bộ văn thư là chị Tạ Thị Kim H1 đóng dấu chức danh ông Doãn Trường T4. Cán bộ văn thư không kiểm tra đóng luôn dấu chức danh “KT. GIÁM ĐỐC PHÓ GIÁM ĐỐC DOÃN TRƯỜNG THỊ” và dấu tròn đỏ của Bệnh viện đa khoa huyện V vào phần Thủ trưởng đơn vị 02 giấy ra viện giả, T đưa. Tươi tiếp tục mang 02 giấy ra viện này xuống khoa Nội - Bệnh viện đa khoa huyện V nói với cán bộ khoa là bệnh viện cấp giấy ra viện thiếu phần đóng dấu chức danh của bà Lăng Thị Vân A, cán bộ khoa Nội (không xác định được) đã đóng dấu chức danh “BSCKI. Lăng Thị Vân A” vào phần Trưởng khoa 02 Giấy ra viện giả này. Ngày 8/7/2024 T sử dụng điện thoại Iphone 6s Plus màu vàng chụp ảnh 01 giấy ra viện giả gửi hình ảnh cho Công ty M qua trang Web http://boithuongbaohiem.manulife.vnNgày 22/7/2024, Công ty M thanh toán vào tài khoản số [...] Ngân hàng V mang tên khách hàng Vũ Thị T2 1.800.000 đồng.

2. Trường hợp khách hàng bà Lại Thị D: Bà D là khách hàng mua bảo hiểm của Công ty M, hợp đồng bảo hiểm số 2815660376 ngày 16/7/2024. Từ ngày 08/11/2024 đến 16/11/2024, bà D nhập viện điều trị nội trú tại khoa Nội - Bệnh viện đa khoa huyện V, tỉnh Thái Bình. Ngày 16/11/2024, bà D ra viện được Bệnh viện đa khoa huyện V cấp 01 giấy ra viện mang tên Lại Thị D, trên Giấy ra viện có thông tin mục Chẩn đoán ghi: I20-Cơn đau thắt ngực không ổn định; I10-Bệnh tăng huyết áp vô căn (nguyên phát); K21-Bệnh trào ngược dạ dày thực quản; G47-Rối loạn giấc ngủ; I07.1- Hở nhẹ van ba lá; J20-Viêm phế quản cấp. Sau đó, bà D đưa giấy ra viện này cho T để làm thủ tục được hưởng quyền lợi bảo hiểm. Sau khi nhận giấy ra viện bà D, thấy tại mục “Chẩn đoán” ghi “Viêm phế quản cấp” thuộc danh mục bệnh không được thanh toán quyền lợi bảo hiểm nên T photo Giấy ra viện bà D đưa thành nhiều bản, dùng giấy trắng dán đè lên phần số “3861” tại mục “Số lưu trữ”, cắt phần chữ “THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ, TRƯỞNG KHOA Họ tên ......” tại bản phôi giấy ra viện giả của bà Vũ Thị T2 mà T làm trước đây sau đó dán đè lên phần chữ ký và hình dấu tại Giấy ra viện của bà D. Tươi cắt phần chữ “16 giờ 00 phút ngày 16 tháng 11 năm 2024” trên mục “TRƯỞNG KHOA” của giấy ra viện bà D rồi dán đè lên phần ngày tháng năm trên mục “THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ”. Tươi cắt phần chữ “giãn vành” trên 01 giấy ra viện khác rồi dán vào sau chữ “giảm tiết” tại mục “Phương pháp điều trị”. Sau khi cắt, dán xong, T sử dụng máy photo của văn phòng công ty P1 Giấy ra viện đã được dán các phần chữ này thành nhiều bản. Bản giấy ra viện này không còn bệnh J20-Viêm phế quản cấp và chưa có chữ ký của Thủ trưởng đơn vị, Trưởng khoa, chưa có dấu tròn đỏ của Bệnh viện đa khoa huyện V nên T tự ký chữ ký của ông Doãn Trường T4 và bà Lăng Thị Vân A vào 01 bản Giấy ra viện trên rồi đến Phòng văn thư Bệnh viện đa khoa huyện V đưa cán bộ văn thư là chị Tạ Thị Kim H1 đóng dấu chức danh ông Doãn Trường T4. Cán bộ văn thư không kiểm tra đóng luôn dấu chức danh “KT. GIÁM ĐỐC PHÓ GIÁM ĐỐC DOÃN TRƯỜNG THI” và dấu tròn đỏ của Bệnh viện đa khoa huyện V vào phần Thủ trưởng đơn vị. Tươi tiếp tục mang giấy ra viện giả này xuống khoa Nội - Bệnh viện đa khoa huyện V xin đóng dấu chức danh của bà Lăng Thị Vân A, cán bộ khoa Nội (không xác định được) không kiểm tra đóng dấu chức danh “BSCKI. Lăng Thị Vân A” vào phần Trưởng khoa giấy ra viện giả này. Ngày 19/11/2024 T sử dụng điện thoại Iphone 6s Plus màu vàng chụp ảnh giấy ra viện giả gửi cho Công ty M qua trang Web http://boithuongbaohiem.manulife.vnđể Công ty thanh toán quyền lợi bảo hiểm cho bà D. Tuy nhiên bà D chưa được thanh toán do chưa cung cấp đầy đủ giấy tờ theo yêu cầu của Công ty.

3. Trường hợp khách hàng bà Lê Thị L: Bà L là khách hàng mua bảo hiểm của Công ty M, hợp đồng bảo hiểm số 3822441828 ngày 15/10/2021. Từ ngày 15/11/2024 đến 22/11/2024, bà L nhập viện điều trị nội trú tại khoa Nội tổng hợp của Bệnh viện T7. Ngày 22/11/2024, bà L ra viện được bệnh viện cấp 01 giấy ra viện mang tên Lê Thị L, trên giấy ra viện mục Chẩn đoán ghi: Rối loạn chức năng gan trong bệnh phân loại nơi khác; T5 lipid máu hỗn hợp; Sỏi túi mật không có viêm túi mật; Viêm phế quản mạn tính đơn thuần; Hở (van) hai lá. Sau đó, bà L đưa giấy ra viện này cho T làm thủ tục để hưởng quyền lợi bảo hiểm. Sau khi nhận giấy ra viện, T thấy mục “Chẩn đoán” trên giấy ra viện ghi “bệnh viêm phế quản” thuộc danh mục các bệnh không được thanh toán quyền lợi bảo hiểm nên T chỉnh sửa nội dung giấy ra viện của bà L bằng cách cắt đôi tờ Giấy ra viện tại vị trí giữa dòng “Chẩn đoán” và “Phương pháp điều trị” rồi dán 2 nửa tờ giấy lại bằng keo dính để che phần chữ “không có viêm túi mật; Viêm phế quản mạn tính đơn thuần; Hở (van) hai lá”. Ngày 25/11/2024, T sử dụng điện thoại Iphone 6s Plus màu vàng chụp ảnh Giấy ra viện đã bị chỉnh sửa gửi cho Công ty M qua trang Web http://boithuongbaohiem.manulife.vnCông ty thanh toán quyền lợi bảo hiểm cho bà L. Ngày 28/11/2024, Công ty M thanh toán vào tài khoản số 0366879489 Ngân hàng VPBanhk mang tên khách hàng Lê Thị L 7.400.000 đồng.

- Kết luận giám định số 1934/KL-KTHS ngày 13/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:

“1. Mẫu cần giám định ký hiệu A1 bị cắt, dán, ghép.

2. Hình dấu tròn có nội dung “BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN VŨ THƯ* SỞ Y TẾ THÁI BÌNH” trên các mẫu cần giám định ký hiệu từ A2 đến A5 so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên mẫu so sánh ký hiệu M4 do cùng một con dấu đóng ra.

3. Hình dấu chức danh, họ tên có nội dung “KT.GIÁM ĐỐC PHÓ GIÁM ĐỐC Doãn Trường T4".

4. Hình dấu chức danh, họ tên có nội dung “BSCKI. Lăng Thị Vân A” trên các mẫu cần giám định ký hiệu A2, A4 so với hình dấu chức danh, họ tên có cùng nội dung trên mẫu so sánh ký hiệu M2 do cùng một con dấu đóng ra.

Hình dấu chức danh, họ tên có nội dung “BSCKI. Lăng Thị Vân A” trên các mẫu cần giám định ký hiệu A3, A5 so với hình dấu chức danh, họ tên có cùng nội dung trên mẫu so sánh ký hiệu M2 không phải do cùng một con dấu đóng ra.

5. Chữ ký mang tên Doãn Trường T4 dưới mục “THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ” trên các mẫu cần giám định ký hiệu A4, A5 so với chữ ký của Doãn Trường T4 trên mẫu so sánh ký hiệu M1 do cùng một người ký ra.

Chữ ký mang tên Doãn Trường T4 dưới mục “THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ” trên các mẫu cần giám định ký hiệu A2, A3 so với chữ ký của Doãn Trường T4 trên mẫu so sánh ký hiệu M1 không phải do cùng một người ký ra.

6. Chữ ký mang tên Lăng Thị Vân A dưới mục “TRƯỞNG KHOA” trên các mẫu cần giám định ký hiệu A4, A5 so với chữ ký của Lăng Thị Vân A trên mẫu so sánh ký hiệu M2 do cùng một người ký ra.

Chữ ký mang tên Lăng Thị Vân A dưới mục “TRƯỞNG KHOA” trên các mẫu cần giám định ký hiệu A2, A3 so với chữ ký của Lăng Thị Vân A trên mẫu so sánh ký hiệu M2 không phải do cùng một người ký ra.

7. Không đủ cơ sở kết luận chữ ký mang tên Doãn Trường T4 dưới mục “THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ” trên các mẫu cần giám định ký hiệu A2, A3 so với chữ ký bà Phạm Thị T ký lại chữ ký của ông Doãn Trường T4 trên mẫu so sánh ký hiệu M3 có phải do cùng một người ký ra hay không.

8. Không đủ cơ sở kết luận chữ ký mang tên Lăng Thị Vân A dưới mục “TRƯỞNG KHOA” trên các mẫu cần giám định ký hiệu A2, A3 so với chữ ký bà Phạm Thị T ký lại chữ ký của bà Lăng Thị Vân A trên mẫu so sánh ký hiệu M3 có phải do cùng một người ký ra hay không”. (bút lục từ số 274 đến số 275);

Bản Cáo trạng số 64/CT-VKSTB ngày 28 tháng 4 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình truy tố Phạm Thị T về “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa: bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: tuyên bố Phạm Thị T phạm tội “ Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 341; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự: đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 4 năm đến 05 năm.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường 9.200.000 đồng cho Công ty M. Bị cáo không yêu cầu bà T2 và bà L hoàn trả số tiền trên.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự:

Tịch thu của bị cáo 01 điện thoại Iphone 6S Plus màu vàng để sung quỹ Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo trình bày: nguyên nhân phạm tội là do thiếu hiểu biết, muốn làm tăng uy tín cho công ty, phạm tội không vì mục đích vụ lợi; hiện bị cáo đơn thân, mắc bệnh K tuyến giáp giai đoạn cuối nên xin HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện chữa bệnh, yên tâm cải tạo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà.

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, và được chứng minh bằng các chứng cứ sau đây:

- Đơn trình báo của Công ty TNHH M ngày 23/12/2024 và tài liệu kèm theo (bút lục từ số 03 đến số 05);

- Biên bản giao nhận tài liệu do Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh T lập ngày 23/12/2024 và 24/12/2024;

- Biên bản làm việc ngày 02/01/2025 do Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh T lập, về: Trích xuất hồ sơ yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm trực tuyến của khách hàng Lê Thị L, Vũ Thị T2, Lại Thị D: Tiến hành in rút tài liệu, dữ liệu điện tử từ máy tính ra 3 trang giấy A4 và sao chép sang đĩa DVD (bút lục từ số 300 đến số 306);

- Kết luận giám định số 1934/KL-KTHS ngày 13/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh T;

- L1 khai những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

[3] Từ những căn cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Từ tháng 6/2024 đến tháng 11/2024, Phạm Thị T là đại lý bảo hiểm của Công ty TNHH M được giao chăm sóc, hỗ trợ khách hàng nộp hồ sơ thanh toán quyền lợi bảo hiểm, với mục đích muốn tăng uy tín với khách hàng tham gia bảo hiểm, T đã làm giả 04 giấy ra viện của khách hàng Vũ Thị T2, Lại Thị D, Lê Thị L và sử dụng 3 giấy ra viện giả mang tên 3 khách hàng trên gửi đến Công ty M để giúp khách hàng được nhận tiền thanh toán bảo hiểm trái quy định. Công ty TNHH M đã thanh toán cho 2 khách hàng bà Vũ Thị T2 1.800.000 đồng, bà Lê Thị L 7.400.000 đồng, tổng 9.200.000 đồng.

Hành vi của bị cáo đã phạm tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Điều 341. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

“1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Làm từ 02 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác đến 05 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác;

d) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng;

đ) T6 lợi bất chính từ 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng;

e) Tái phạm nguy hiểm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính, ảnh hưởng đến hoạt động đúng đắn, bình thường của công ty M.

[5] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo được hưởng ba tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện khắc phục toàn bộ thiệt hại và bố bị cáo là người có công với cách mạng được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Mặc dù bị cáo phạm tội hai lần trở lên nhưng các lần phạm tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng, theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo thì bị cáo không thuộc trường hợp không cho hưởng án treo. Bị cáo phạm tội không vì mục đích vụ lợi, có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, xét thấy áp dụng Điều 65 BLHS để xử phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, tạo điều kiện cho bị cáo có thời gian chữa bệnh, yên tâm cải tạo phấn đấu trở thành công dân tốt là phù hợp với chính sách nhân đạo của pháp luật.

[8] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không thu lời bất chính từ việc phạm tội, hiện nay đang bị bệnh nặng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[9] Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 9.200.000 đồng cho Công ty M; không yêu cầu bà T2 và bà L hoàn trả số tiền trên nên không đặt ra giải quyết.

[10] Các vấn đề khác liên quan đến vụ án:

+ Đối với bà Lê Thị L, Vũ Thị T2, Lại Thị D: Sau khi ra viện đã đưa giấy ra viện cho T để bị cáo làm thủ tục thanh toán quyền lợi tham gia bảo hiểm, họ không biết T làm giả các giấy ra viện của mình nên Cơ quan An ninh điều tra không xử lý là phù hợp.

+ Đối với chị Tạ Thị Kim H1 là cán bộ văn thư Bệnh viện đa khoa huyện V do không kiểm tra kỹ trước khi đóng dấu nên không phát hiện được chữ ký giả nên Cơ quan An ninh điều tra không xử lý. Đối với cán bộ khoa Nội Bệnh viện đa khoa huyện V không xác định được ai đã đóng dấu chức danh Trưởng khoa vào giấy ra viện do T đưa nên không có căn cứ xử lý.

[11] Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước;

[12] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: tuyên bố bị cáo Phạm Thị Tươi P “ Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 341; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự: xử phạt Phạm Thị T 02 ( hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 ( bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 23/6/2025.

Giao bị cáo Phạm Thị T cho UBND thị trấn V, huyện V, tỉnh Thái Bình nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Phạm Thị T nộp bồi thường 9.200.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000019 ngày 14/4/2025 tại Cục thi hành án tỉnh Thái Bình cho Công ty TNHH M. Bị cáo không yêu cầu bà Vũ Thị T2 và bà Lê Thị L hoàn trả số tiền trên nên không đặt ra giải quyết.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự:

Tịch thu của bị cáo Phạm Thị T 01 điện thoại Iphone 6s Plus màu vàng có số máy MKVD2LL/A, số IMEI 353288073309324 để sung quỹ Nhà nước.

5. Về án phí: áp dụng Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: bị cáo Phạm Thị T phải chịu 200.000 ( hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 23/6/2025.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Cục THADS tỉnh Thái Bình;
  • - Bị cáo;
  • - Người liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu HC-TP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Minh Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2025/HS - ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về hình sự (tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)

  • Số bản án: 74/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án số 74/2025/HS-ST ngày 23/6/2025
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger